TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HSST
Ngày: 05/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hồng Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Thỉnh
2. Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: số H B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); Vợ, con: Trần Thị B, sinh năm 1975, có 01 con sinh năm 2002; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số 6746/QĐ-XPHC ngày 26/06/2024 của Công an phường T xử phạt Phạm Văn Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt; Nhân thân: Bản án số 137/2016/HSST ngày 24/6/2016 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 11/12/2017. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2024, đến ngày 07/11/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị B, sinh năm 1975, Địa chỉ: Số B T, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Đ là đối tượng nghiện ma túy. Lúc 7 giờ 45 phút, ngày 31/10/2024, Đ điều khiển xe máy hiệu Yamaha biển số 59C2-14605 đi từ nhà qua đầu hẻm G N, Phường A, Quận D để mua ma túy. Đang mua ma túy của một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) gồm 04 đoạn ống nhựa màu xanh và 04 đoạn ống nhựa màu đỏ với giá 600.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt. Lúc 8 giờ cùng ngày, sau khi mua được ma túy, Đ điều khiển xe máy về đến trước địa chỉ C H, phường T, Quận G thì bị tổ tuần tra Công an phường T, Quận G phát hiện Đang có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo bên trái của Đ đang mặc có 04 đoạn ống nhựa màu xanh, 04 đoạn ống nhựa màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng. Đang khai nhận là ma túy, mục đích mua để sử dụng. Công an phường T, Quận G tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Đang. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma tuý đối với Phạm Văn Đ. Kết quả: Đang dương tính với chất ma túy trong cơ thể.
Kết luận giám định số 12992/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: 04 đoạn ống nhựa màu xanh chứa chất bột (m1), đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3194g (không phẩy ba một chín bốn gam), loại Heroin; 04 đoạn ống nhựa màu đỏ (m2) chứa chất bột đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1670g (không phẩy một sáu bảy không gam), loại Heroin.
*Vật chứng vụ án:
- - 08 ống nhựa (04 màu xanh, 04 màu đỏ) hàn kín 02 đầu chứa chất bột màu trắng được niêm phong bằng bì thư dán kín, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Văn Đ và hình dấu Công an phường T, Quận G.
- - 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu trắng đen, số IMEI: 353056098846376, số thuê bao: 0974615773.
- - 01 xe máy hiệu Yamaha, số loại Nozza, biển số 59C2-1460, màu vàng; Số máy: 1DR1017601; Số khung: RLCN1DR10BY017597. Qua xác minh chiếc xe do bà Trần Thị B là vợ của Đ đứng tên chủ sở hữu. Bà B đưa xe cho Đ đi mua đồ, không biết Đ sử dụng xe để đi mua ma túy.
Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKSQ7 ngày 20/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi chiếm đoạt tài sản phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 7 giờ 45 phút, ngày 31/10/2024, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 04 đoạn ống nhựa màu xanh chứa chất bột (m1), đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3194g (không phẩy ba một chín bốn gam), loại Heroin; 04 đoạn ống nhựa màu đỏ (m2) chứa chất bột đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1670g (không phẩy một sáu bảy không gam), loại Heroin, tại trước địa chỉ số C H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Mục đích tàng trữ lượng ma túy này để sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
3
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, đủ căn cứ xử lý sau.
[7] Xử lý vật chứng:
- + 08 ống nhựa (04 màu xanh, 04 màu đỏ) hàn kín 02 đầu chứa chất bột màu trắng được niêm phong bằng bì thư dán kín, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Văn Đ và hình dấu Công an phường T, Quận G tịch thu, tiêu hủy.
- + 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu trắng đen, số IMEI: 353056098846376, sim số thuê bao: 0974615773, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- + 01 xe máy hiệu Yamaha, số loại Nozza, biển số 59C2-1460, màu vàng; Số máy: 1DR1017601; Số khung: RLCN1DR10BY017597. Qua xác minh chiếc xe do bà Trần Thị B là vợ của Đ đứng tên chủ sở hữu. Bà B đưa xe cho Đ đi mua đồ, không biết Đ sử dụng xe để đi mua ma túy nên trả lại cho bà B.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- - Tịch thu sung tiêu hủy: 08 ống nhựa (04 màu xanh, 04 màu đỏ) hàn kín 02 đầu chứa chất bột màu trắng được niêm phong bằng bì thư dán kín, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Văn Đ và hình dấu Công an phường T, Quận G.
- - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu trắng đen, số IMEI: 353056098846376, sim số thuê bao: 0974615773 thu giữ của bị cáo Phạm Văn Đ.
- - Trả lại cho bà Trần Thị B 01 xe máy hiệu Yamaha, số loại Nozza, biển số 59C2-1460, màu vàng; Số máy: 1DR1017601; Số khung: RLCN1DR10BY017597.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 048 ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Phạm Văn Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Đoàn Hồng P |
5
Bản án số 23/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, TP. HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 23/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
