|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 28 - 10 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Khảnh; bà Vũ Thị Hường.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình.
Đại diện VKSND khu vực 8 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu H – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1974; nơi cư trú: Xóm H, xã H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Đinh Thị T1, đều đã chết; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm;
Bị cáo có vợ:
- + Chử Thị H1 Sinh năm 1975 Đã ly hôn năm 2019
- HKTT: Xóm N, xã H, tỉnh Ninh Bình.
- + Nguyễn Thị N Sinh năm 1980 Đã ly hôn năm 2021
- HKTT: Ngõ 2, Chùa H, xã V, tỉnh Phú Thọ
- + Nguyễn Thị H2 Sinh năm 1970 Đã ly hôn năm 2024
- HKTT: Lập Thạch, xã V, tỉnh Phú Thọ.
- Có 05 con: Lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Hiện 4 con đầu đều trú tại: Xóm H, xã H, tỉnh Ninh Bình. Con nhỏ nhất trú tại: Ngõ B, Chùa H, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Tiền án: Ngày 30/12/2011 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số 276/2011/HSST. C đã chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp đủ án phí hình sự và dân sự sơ thẩm nhưng chưa bồi thường cho người bị hại số tiền 40.000.000đ nên chưa được xoá án tích.
· Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Ngày 18/5/2006, Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản" theo bản án số 09/2006 /HSST.
- + Ngày 16-4-2008, Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 9 tháng tù giam về tội “Đánh bạc" theo bản án số 13/2008 /HSST.
- + Ngày 06-4-2018, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 12/2018/HS-ST. Ngày 03/4/2019 C chấp hành xong bản án.
- + Ngày 15/11/2021 Công an xã T, huyện V, tỉnh Nam Định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000đ theo Quyết định số 03 về hành vi “đánh bạc”. Cùng ngày C đã chấp hành xong Quyết định.
- + Ngày 15/11/2023 Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 2.500.000đ theo Quyết định số 0101032 về hành vi “Trộm cắp tài sản”. C đã chấp hành xong quyết định ngày 16/11/2023.
Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/7/2025 đến ngày 11/7/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo Nguyễn Văn C đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 3 – Công an tỉnh N. (Có mặt).
- Bị hại: Anh Vũ Văn T2, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn N, xã L, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Những người làm chứng:
- - Anh Phạm Hữu T3, sinh năm 1994. (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Ninh Bình.
- - Anh Trần Hùng M, sinh năm 1993. (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Xóm C, xã V, tỉnh Ninh Bình.
- - Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 2004. (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Xóm H, xã H, tỉnh Ninh Bình.
- - Chị Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm 1974. (Có mặt).
- Địa chỉ: Số A, đường V, phường T, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h30 phút ngày 28/6/2025, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Rsx màu trắng, đen BKS 29B1- 001.54 đi từ nhà ở xóm H, xã H, tỉnh Ninh Bình đến cửa hàng mua bán phế liệu của gia đình anh Vũ Văn T2, sinh năm 1989 ở thôn N, xã L, tỉnh Ninh Bình để hỏi mua téc nước cũ về sử dụng. Khi đến nơi, C để xe mô tô ở ngoài cổng và đi vào trong cửa hàng nhưng không thấy ai, C quan sát xung quanh thấy tại phần mép nhô ra của gác xép trong cửa hàng có để một chiếc túi vài màu đen, nghĩ bên trong túi có tiền, C nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi quan sát xung quanh không thấy ai, C đi lên bậc cầu thang, dùng tay phải với lấy chiếc túi vải rồi cất giấu vào trong chiếc áo đang mặc, kẹp vào nách bên trái, rồi đi ra cổng lấy xe mô tô đi thẳng về nhà. Về đến nhà C mở chiếc túi vải ra kiểm tra thấy bên trong túi có số tiền 18.800.000 đồng, C bỏ số tiền này vào trong cốp xe sau đó mang chiếc túi vải đến vứt xuống máng nước ở cầu K thuộc địa phận xóm Đ, xã H, tỉnh Ninh Bình, trưa cùng ngày C điều khiển chiếc xe mô tô BKS 29B1- 001.54 ra khu vực B, phường Đ, tỉnh Ninh Bình và bán chiếc xe trên cho người đàn ông trung niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Số tiền 18.800.000 đồng trộm cắp được C đã sử dụng hết vào việc tiêu xài cá nhân.
Sau khi phát hiện gia đình bị mất tài sản, ngày 04/7/2025 anh Vũ Văn T2 đã đến Công an xã L trình báo nội dung vụ việc.
Ngày 05/7/2025 Nguyễn Văn C đã ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với chiếc túi vải đựng số tiền Nguyễn Văn C đã trộm cắp, C khai mang vứt xuống máng nước tại khu vực cầu K thuộc địa phận xóm Đ, xã H, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Rsx màu trắng, đen BKS 29B1- 001.54 quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của Nguyễn Văn C, chiếc xe này C khai đã bán cho 01 người đàn ông trung niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã uỷ quyền cho bạn là chị Nguyễn Thị Thu H3 SN 1974 trú tại ngõ A, đường V, phường T, tỉnh Ninh Bình trả lại cho anh Vũ Văn T2 số tiền 18.800.000đ, anh Vũ Văn T2 đã nhận lại số tiền 18.800.000đ và không có yêu cầu, đề nghị gì, chị H3 có đơn không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị số tiền trên.
Về vật chứng thu giữ: 01 đôi dép da quai hậu màu nâu, 01 áo sơ mi dài tay, 01 quần dài bằng vải, chuyển Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8, tỉnh Ninh Bình để chờ xử lý.
Tại giai đoạn điều tra, truy tố Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số 25/Ctr - VKS- KV8 ngày 30/9/2025 của VKSND khu vực 8 –Ninh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là anh Vũ Văn T2 vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai lưu trong hồ sơ vụ án xác nhận đã nhận lại số tiền 18.800.000đ, không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.
Đại diện VKSND khu vực 8 – Ninh Bình trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn C từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tiền và không có yêu cầu đề nghị gì khác vì vậy không đề nghị HĐXX xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép da quai hậu màu nâu, 01 áo sơ mi dài tay, 01 quần dài bằng vải.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay. Lời khai phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11h30 phút ngày 28/6/2025, tại cửa hàng mua bán phế liệu của gia đình anh Vũ Văn T2, sinh năm 1989 ở thôn N, xã L, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn C đã có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 18.800.000đ (mười tám triệu tám trăm nghìn đồng) của gia đình anh T2 để tiêu xài cá nhân sau đó thì bị phát hiện bắt giữ. Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình đã truy tố.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã uỷ quyền cho bạn là chị Nguyễn Thị Thu H3 trả lại cho anh Vũ Văn T2 số tiền 18.800.000đ, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích, do đó bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự
[4] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng vi phạm pháp luật bị các cơ quan chức năng xử phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà cùng với việc đánh giá toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định và không sở hữu tài sản gì lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền 18.800.000đ và không có yêu cầu đề nghị gì khác do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Xử lý vật chứng: Đối với 01 đôi dép da quai hậu màu nâu, 01 áo sơ mi dài tay, 01 quần dài bằng vải do không có giá trị và tại phiên toà bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2025.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép da quai hậu màu nâu, 01 áo sơ mi dài tay, 01 quần dài bằng vải.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N và Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Ninh Bình).
- Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Minh |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11h30 phút ngày 28/6/2025, tại cửa hàng mua bán phế liệu của gia đình anh Vũ Văn T, sinh năm 1989 ở thôn N, xã L, tỉnh N, Nguyễn Văn C đã có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 18.800.000đ (mười tám triệu tám trăm nghìn đồng) của gia đình anh T để tiêu xài cá nhân sau đó thì bị phát hiện bắt giữ
