|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Mai Như Chi
2. Bà Trịnh Thị Thu Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Thành P, sinh năm: 1989
tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê T (đã chết) và bà Trần Thị T1; có vợ và 01 con sinh năm 2011.
Tiền án:
- - Bản án số 28/2013/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Thực hiện 01 vụ).
- - Bản án số 250/2013/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Thực hiện 01 vụ).
- - Bản án số 07/2013/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Thực hiện 11 vụ). Tổng hợp với bản án số 28/2013/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án là 05 năm tù.
- - Bản án số 26/2014/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Thực hiện 01 vụ). Tổng hợp với bản án số 07/2013/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh và bản án số 250/2013/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2013 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 03 bản án là 07 năm tù 06 tháng tù.
- - Bản án số 229/2014/HSPT ngày 12 tháng 12 năm 2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Thực hiện 07 vụ). Tổng hợp với bản án số 26/2014/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa buộc bị cáo phải chấp hành chung là 12 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05 tháng 5 năm 2023.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C (Có mặt).
* Bị hại: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1995
Nơi cư trú: Thôn B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).
* Người làm chứng:
- - Bà Huỳnh Thị Kim P1, sinh năm 1995;
- Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. (Vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000;
- Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt)
- - Bà Võ Thị Minh D, sinh năm 2002
- Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 01/3/2024, Lê Thành P điều khiển xe mô tô 79D1-435.17 đi đến khu vực cầu gãy ở tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa để tìm tài sản trộm cắp. Tại đây, P thấy xe ô tô 79A-482.70 của ông Nguyễn Thành L đựng không khóa cửa, không có người người trông coi. P mở cửa xe ô tô lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đen và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng đồng của ông L thì bị phát hiện.
Tại Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 01 điện thoại di động Iphone XS, màu đen trị giá 5.391.000 đồng; 01 điện thoại di động hiêu Iphone 11 Pro Max trị giá 9.891.000 đồng. Tổng trị giá tài sản: 15.282.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 17/CT-VKSCR-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Lê Thành P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lê Thành P và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại và những người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, tại tổ dân phố N, phường C, thành phố C, Lê Thành P có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng đồng của ông Nguyễn Thành L, trị giá 15.282.000 đồng. Bị cáo là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý, bản thân không có nghề nghiệp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh truy tố bị cáo Lê Thành P theo đúng tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo Lê Thành P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản. Lẽ ra phải lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành người công dân tốt nhưng lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà tích tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh L1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[6] Về các vấn đề khác: Đối với xe mô tô 79D1-435.17 là vật chứng trộm cắp xảy ra trên địa bàn huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D giải quyết theo thẩm quyền.
[8] Về án phí: Bị cáo Lê Thành P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- 1. Tuyên bố bị cáo Lê Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- 2. Xử phạt bị cáo Lê Thành P 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 01/3/2024.
- 5. Về án phí: Bị cáo Lê Thành P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- 6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Ngọc Hiên |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: k2 điều 173
