Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS - ST

Ngày 25 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quốc và ông Vũ Văn Vừng
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Thiên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh; và tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 06/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 14/11/2025 đối với bị cáo:

Lê Ngọc M, sinh năm 1995, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn M, xã L, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Trọng Q, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không

Tiền sự:

Tại quyết định số 36/QĐ – XPHC ngày 17/01/2025, Lê Ngọc M bị Trưởng Công an xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Công an xã L, tỉnh Thanh Hóa) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã nộp tiền phạt ngày 24/01/2025.

Tại quyết định số: 02/QĐ – TA ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 tỉnh Thanh Hóa) Lê Ngọc M bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng kể từ ngày đưa vào cơ sở cai nghiện. Bị cáo chưa bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

* Nhân thân :

Tại quyết định số 01/QĐ – XPHC ngày 09/02/2021 của Công an xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Công an xã L, tỉnh Thanh Hóa), Lê Ngọc M bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Hình thức xử phạt: Cảnh cáo.

Tại bản án số: 27/2022/HS – ST ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 tỉnh Thanh Hóa) xử phạt Lê Ngọc M 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo được miễn án phí. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B (Phân trại tạm giam Thuận T1) (có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T2 (Có mặt tại điểm cầu T nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh).

- Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Chí Q1 – Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh.
  2. Cán bộ phụ trách tin học của Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 05/8/2025, tại Km5 + 700, Quốc lộ A thuộc địa phận tổ dân phố C, phường S, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường S, tỉnh Bắc Ninh đã kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Lê Ngọc M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của M 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ, bên trong túi có chứa chất bột màu trắng và 01 ống nước cất dạng ống nhựa màu trắng loại 05 ml chưa qua sử dụng, thu giữ tại cạp quần phía trước M đang mặc 01 bơm kim tiêm y tế chưa qua sử dụng. M khai đây là ma túy và dụng cụ dùng để sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Tổ công tác Công an phường S đã tiến hành niêm phong 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng vào phong bì thư ký hiệu M1; niêm phong 01 ống nước cất dạng ống nhựa màu trắng loại 05 ml chưa sử dụng + 01 bơm kim tiêm y tế chưa sử dụng vào phong bì thư ký hiệu M2. Ngoài ra, còn thu mẫu nước tiểu của Lê Ngọc M bảo quản trong 01 chai nhựa niêm phong theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 1704/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • + Mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Ngọc M bên trong 01 chai nhựa gửi giám định có tìm thấy 6 – MAM (6 Monoacetylmorphin) là sản phẩm chuyển hóa của H1 (H);
  • + Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ gửi giám định có khối lượng là 0,1667 gam ma túy; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).

Heroine (H2) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Lê Ngọc M khai nhận nguồn gốc số ma túy bị thu giữ như sau: Khoảng 12 giờ ngày 05/8/2025, khi M ngồi một mình ở cầu N, xã Y, tỉnh Bắc Ninh thì có một nam thanh niên không quen biết điều khiển xe mô tô đi một mình đến hỏi chuyện M. Qua nói chuyện thì M biết được nam thanh niên cũng nghiện ma túy nên M và nam thanh niên cùng rủ nhau đi mua ma túy về để cùng sử dụng, do M không có tiền nên có bảo nam thanh niên này cho M nợ tiền để mua ma túy. Sau đó, nam thanh niên điều khiển xe mô tô chở M đến tổ dân phố C, phường S, tỉnh Bắc Ninh. Khi đi đến đoạn đường một bên là khu dân cư, một bên là cánh đồng thì nam thanh niên dừng xe rồi lấy điện thoại ra gọi điện cho một người nào đó, M không rõ. Điện thoại xong, nam thanh niên này đi đến bụi cỏ ở rìa đường lấy ra 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ bên trong túi có chứa chất bột màu trắng là H2; 01 bơm kim tiêm y tế và 01 ống nước cất màu trắng chưa qua sử dụng và đưa cho M cầm. M cất bơm kim tiêm y tế vào cạp quần phía trước bụng đang mặc còn ống nước cất M đút vào trong túi nilon màu trắng viền kẻ màu đỏ bên trong chứa ma túy Heroin rồi cầm trong lòng bàn tay phải. Sau đó, nam thanh niên tiếp tục điều khiển xe mô tô chở M đi đến đoạn Km5+700, Quốc lộ A thuộc địa phận tổ dân phố P, phường S thì bị tổ công tác công an phường S phát hiện, yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Nam thanh niên đã bỏ chạy thoát còn Lê Ngọc M bị bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 11/CT - VKS- KV9 ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố Lê Ngọc M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Lê Ngọc M khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xác định bị cáo không biết việc bị cáo bị Tòa án Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 tỉnh Thanh Hóa) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cũng chưa từng cai nghiện ma túy (bao gồm cả cai nghiện ma túy tự nguyện và cai nghiện ma túy bắt buộc) và chưa từng bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Ngọc M từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 ống nước cất dạng ống nhựa màu trắng loại 05 ml chưa sử dụng + 01 bơm kim tiêm y tế chưa sử dụng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2); Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ: Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 05/8/2025, tại Km5 + 700, Quốc lộ A thuộc địa phận tổ dân phố C, phường S, tỉnh Bắc Ninh, Lê Ngọc M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1667 gam ma túy; Loại ma túy: Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Lê Ngọc M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo có 02 tiền sự, ngày 17/01/2025 bị cáo bị Công an xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Công an xã L, tỉnh Thanh Hóa) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và ngày 14/3/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10, tỉnh Thanh Hóa) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng nhưng do bị cáo bỏ trốn nên chưa thi hành được. Bị cáo còn từng bị Tòa án xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và cũng từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã phạm tội nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước, nhưng xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Ngọc M: Tại Kết luận giám định số 1704/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh B kết luận: Mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Ngọc M bên trong 01 chai nhựa gửi giám định có tìm thấy 6 – MAM là sản phẩm chuyển hóa của H3; tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy trên, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10 tỉnh Thanh Hóa) ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng kể từ ngày đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, do bị cáo M bỏ trốn nên từ thời điểm quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên có hiệu lực pháp luật đến thời điểm M sử dụng trái phép chất ma túy, M chưa từng bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chưa từng cai nghiện ma túy, cũng chưa từng được hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội, giúp người nghiện ma túy dừng sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép các chất này. Do vậy căn cứ khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 13 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy, xác định khi M thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên M không đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế và cũng không rơi vào các trường hợp sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Vì vậy, hành vi sử dụng trái phép chất ma ma túy trên của M không cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, Công an phường S, tỉnh Bắc Ninh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên của Lê Ngọc M là phù hợp.

Đối với nam thanh niên M khai đã rủ M cùng sử dụng ma túy, liên lạc mua ma túy sau đó đưa cho M. Do M không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của nam thanh niên này, không nhớ rõ đặc điểm và biển kiểm soát xe do nam thanh niên điều khiển. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Khi nào làm rõ được sẽ xem xét, xử lý sau.

[6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành (Trong phong bì thư hoàn lại sau giám định); 01 ống nước cất dạng ống nhựa màu trắng loại 05 ml chưa sử dụng + 01 bơm kim tiêm y tế chưa sử dụng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2) là công cụ phương tiện mà bị cáo chuẩn bị để sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Ngọc M 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì thư bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định được dán kín mép, có chữ ký của những người liên quan và được đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh B, bên ngoài ghi mẫu vật hoàn lại trong vụ Lê Ngọc M, sinh năm 1995, thường trú tại M, L, Thanh Hóa, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 05/8/2025 tại phường S, tỉnh Bắc Ninh.

01 phong bì thư được dán kín mép, có chữ ký của những người liên quan và được đóng dấu của Công an phường S, tỉnh Bắc Ninh, bên ngoài ghi M2.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/11/2025)

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Ngọc M.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 9 – Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Thi hành án tỉnh Bắc Ninh (HLPL);
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Yến

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS - ST ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger