Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thái Quân và bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện là Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc A, sinh ngày 19/3/1998 tại Huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1973 và bà Đặng Thị D, sinh năm: 1975; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo A bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2025 đến nay, tại Phân Trại tạm giam khu vực huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, An Giang. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1969 nơi cư trú: Khóm P, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang. (văng mặt)

- Người làm chứng: Bà Phan Kim L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 14/3/2025, Nguyễn Quốc A đi bộ đến khu vực tổ B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, gặp Nguyễn Thị Kim C (Tám C) hỏi Kim C có mua bộ lư đồng không, Quốc A cho biết đây là tài sản của gia đình nên Kim C đồng ý mua. Lúc này, Quốc A đi bộ đến nhà ông Nguyễn Văn T (thuộc tổ B, ấp P, xã P, huyện P) quan sát nhà không có ai nên Quốc A đi vào nhà lén lút lấy trộm bộ lư (02 chân đèn và bộ lư hương đèn) bằng kim loại, Quốc A đem bộ lư ra để đầu hẻm, rồi quay lại nhà T đóng cửa. Sau đó, Quốc A lấy bộ lư, bỏ quên lại 01 chân đế lư tại đầu hẻm, đi đến khu vực tổ B, ấp P, xã P bán cho Kim C với giá 1.000.000 đồng, rồi Quốc A đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 15/3/2025, Phan Kim L (họ hàng của T) phát hiện nhà T bị mất trộm bộ lư và 01 chân đế lư để tại đầu hẻm nên đến Công an trình báo và giao nộp chân đế lư. Cùng ngày, Công an xã P về làm việc thì Quốc A khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 1.000.000 đồng. Khi này, Kim C biết được bộ lư mua của Quốc A do trộm cắp mà có nên đã giao nộp cho Công an bộ lư (không có chân đế lư).

* Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HDĐG.TTHS ngày 20/3/2025 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định: 01 bộ lư gồm 02 chân đèn và 01 lư hương đèn bằng kim loại, tổng trọng lượng 14,8kg, đã qua sử dụng, trị giá 4.500.000 đồng.

* Kết luận giám định số 410/KL-KTHS ngày 09/5/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Trích xuất 08 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong thẻ nhớ Miro SD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A tạm giữ và trả lại bộ lư, gồm 02 chân đèn và 01 lư hương đèn bằng kim loại, màu vàng, tổng trọng lượng 14,8 kg cho bị hại Nguyễn Văn T. Hiện còn tạm giữ 1.000.000 đồng do Nguyễn Quốc A giao nộp; 01 thẻ nhớ Micro SD, loại dung lượng 16GB, thẻ nhớ lưu trữ dữ liệu 01 tập tin video có phần mở rộng “.mp4”, dung lượng 55,1MB.

Tại Cáo trạng số: 20/CT-VKSPT ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Nguyễn Quốc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quốc A khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị: Về trách nhiệm hình sự, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điểu 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/3/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng; lưu vào hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ Micro SD, loại dung lượng 16GB, thẻ nhớ lưu trữ dữ liệu 01 tập tin video có phần mở rộng “.mp4”, dung lượng 55,1MB.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

- Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Quốc A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 14/3/2025 tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, Nguyễn Quốc A thực hiện hành vi trộm cắp 01 bộ lư gồm 02 chân đèn và 01 lư hương đèn bằng kim loại, tổng trọng lượng 14,8 kg, trị giá 4.500.000 đồng của Nguyễn Văn T.

Hành vi của bị cáo Ngyễn Quốc A1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, sống lành mạnh tạo lập cuộc sống cho gia đình để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền mua ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo Anh có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo trộm cắp bộ lư đồng là vật dùng để thờ cúng, liên quan đến tín ngưỡng và tâm linh của chủ sở hữu. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm

khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tiền bán bộ lư đồng cho bà C, bà C không yêu cầu trả lại số tiền này, đây là tiền thu lợi bất chính nên tích thu sung vào ngân sach nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/3/2025).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 (một triệu đồng), lưu vào hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ Micro SD dung lượng 16GB lưu trữ dữ liệu 01 tập tin video có phần mở rộng “.mp4”, dung lượng 55,1MB.

(Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) nộp theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 10/6/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A chuyển khoản vào tài khoản: 3949.0.1054831.00000 Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2025)

Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Quốc A phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (1);
  • - Đương sự (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện Phú Tân(1);
  • - Nhà tạm giữ, THAHS CA HPT (2);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân(2);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG (1);
  • - Sở Tư Pháp tỉnh AG (1);
  • - Lưu hồ sơ Tòa án (1);
  • - Lưu VT (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thế Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/3/2025).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger