|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 24/01/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Long
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Phượng và bà Trần Thị Phương Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa:
Ông Lê Viết Báu. - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 411/2024/TLST-HS ngày 31/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20 ngày 10/01/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18/8/1990, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKNKTT: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn D(Đã chết); Con bà: Lê Thị L; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, Không; Tiền án: Tại bản án số 89/2017/HSST ngày 13/3/2017, bị Toà án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí HSST, DSST, còn phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa chấp hành; Tại bản án số 88 ngày 30/12/2020, bị Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 18/3/2022 và thi hành xong tiền án phí HSST, DSST, còn phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa chấp hành; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Mai Tùng L1, sinh năm 1971; Trú tại: khối C, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt trong quá trình xét xử, có mặt khi tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 21/10/2024, Lê Văn N do không có tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền. Sau đó, N
1
đi bộ từ khu vực ngã tư Sân Bay V dọc các tuyến đường trên địa bàn thành phố V để tìm kiếm xe ô tô của người dân quên khoá cửa mục đích lấy trộm tài sản trong xe ô tô. Khi đến trước nhà số F, đường Gm thuộc khối C, phường H, thành phố V, N phát hiện 01 (Một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Lexus LX570 màu vàng, biển số 37A-388.89 (Là xe của anh Mai Tùng L1) đậu trên vỉa hè thì N đi lại sát chiếc xe ô tô trên dùng tay kéo cửa bên lái, thấy xe không khoá cửa nên N mở cửa và vào trong xe ô tô tìm kiếm và lấy trộm 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vertu Signature V503.07, màu bạc có ốp da màu xám, số IMEI 355711/02/029955/1, gắn sim số 0944569999 được bỏ trong vỏ da màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50 Đô la Mỹ (USD) và 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng của anh L1. Sau khi lấy trộm tài sản, N đi bộ ra đường QL1A bắt xe buýt về nhà tại khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An rồi đi đến một cửa hàng mua bán điện thoại trên địa bàn thị trấn Q bán chiếc điện thoại di động trên, nhưng không bán được. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, N bắt xe buýt xuống thành phố V rồi đi đến một cửa hàng vàng bạc (không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) bán tờ tiền mệnh giá 50 USD cho một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, N tiếp tục bắt xe buýt đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, N bắt xe buýt từ thị trấn Q, huyện Q xuống thành phố V để tiếp tục tìm nơi tiêu thụ chiếc điện thoại di động nhưng chưa bán được. Số tiền lấy trộm được N đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 22/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V triệu tập Lê Văn N lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Lê Văn N đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi “Trộm cắp tài sản” của mình như đã nêu trên đồng thời giao nộp 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vertu Signature V503.07, màu bạc có ốp da màu xám, số IMEI 355711/02/029955/1, gắn sim số 0944569999 được bỏ trong vỏ da màu xanh mà N đã lấy trộm của anh Mai Tùng L1.
Tại kết luận định giá tài sản số 210/KL-ĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố V kết luận:
- + 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vertu Signature V503.07, màu bạc có ốp da màu xám, số IMEI 355711/02/029955/1, gắn sim số 0944569999 được bỏ trong vỏ da màu xanh, đã qua sử dụng có giá trị trên địa bàn thành phố V tại thời điểm ngày 21/10/2024 là 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).
- + 01 tờ tiền mệnh giá 50 Đô la Mỹ (USD) có giá trị trên địa bàn thành phố V tại thời điểm ngày 21/10/2024 là 1.247.750 đồng (Một triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Tổng cộng số tiền tài sản định giá là 57.247.750 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
2
Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKS-TPV ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn N từ 30 đến 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 1.747.750 đồng cho bị hại.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Lê Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 21/10/2024, tại trước nhà số F, đường Gm thuộc khối C, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Lê Văn N đã có hành vi mở của xe ô tô nhãn hiệu Lexus LX570 màu vàng, biển số 37A-388.89 lấy trộm 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vertu đã qua sử dụng; 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50 Đô la Mỹ (USD) và 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản Lê Văn N chiếm đoạt của bị hại là anh Mai Tùng L1 là 57.747.750 đồng (Năm mươi bảy triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 57.747.750 đồng nên vi phạm điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo còn phạm tội trong trường hợp tái phạm
3
nguy hiểm nên vi phạm thêm vào điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố là đúng pháp luật.
[2.2]. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn thành phố V. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm minh đối với bị cáo.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện ra đầu thú và giao nộp tài sản chiếm đoạt nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3]. Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[2.4]. Về vật chứng: Quá trình điều tra, bị cáo giao nộp 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vertu Signature V503.07, màu bạc có ốp da màu xám, số IMEI 355711/02/029955/1, gắn sim số 0944569999 được bỏ trong vỏ da màu xanh, đã qua sử dụng. Quá trình xác minh, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V xác định tài sản trên thuộc sở hữu hợp pháp của anh Mai Tùng L1 nên Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Mai Tùng L1.
[2.5]. Về bồi thường dân sự: Anh Mai Tùng L1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động nêu trên. Hiện nay, anh L1 yêu cầu Lê Văn N bồi thường số tiền 1.747.750 đồng tương đương số tiền 50 Đô la Mỹ (USD) và 500.000 đồng bị cáo chiếm đoạt là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[2.6]. Bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Lê Văn N 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024.
- Về bồi thường dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Lê Văn N phải bồi thường cho anh Mai Tùng L1 số tiền 1.747.750 đồng (Một triệu, bảy trăm bốn bảy nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).
4
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) áp phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Huy Long |
5
6
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn N - Trộm cắp tài sản
