|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 24 – 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Sương
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Quang Nghĩa
- 2. Bà Trần Thị Kim Tân
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST -HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Đắc Q, T gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 03 năm 1989 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin Lành. Số CCCD: [...]. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông. Con ông Trần Văn Q1 và bà Nguyễn Thị Ánh Lê . Vợ: Đào Thị Thùy V. Con: có 01 người con sinh năm 2016. Tiền sự, tiền án: Không.
- Họ và tên: Bùi Cao Minh Duyên T1, T gọi khác: B. Sinh ngày 26 tháng 7 năm 1980 tại Đồng Nai. Nơi thường trú: 1 H, khu phố C, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tài xế. Con ông Bùi Minh T2 và bà Trần Thị Q2. Vợ: Nguyễn Thị Thanh H (đã ly hôn). Con: Có 02 người con, sinh năm 2004 và sinh năm 2012. Tiền sự, tiền án: Không.
- Họ và tên: Bùi Quang P, T gọi khác: Cu A. Sinh ngày 16 tháng 02 năm 1992 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế. Con ông Bùi Quang N và bà Lê Thị Mỹ D. Vợ: Hoàng Tuyết N1. Con: Có 02 người con, sinh năm 2023 và sinh năm 2024. Tiền sự, tiền án: Không
Nhân thân:
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 243/2013/HSPT ngày 22/8/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự, đến ngày 28/4/2014 chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024, đến ngày 08/8/2024 được thay đổi sang áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024, đến ngày 08/8/2024 được thay đổi sang áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024 đến ngày 08/8/2024 được thay đổi sang áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng: Đổng Hồng Đ, sinh năm 1977. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 05/8/2024, tại khu đất rẫy của ông Đồng Hồng Đ thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; qua công tác nắm tình hình, Công an xã X tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Bùi Quang P, Trần Đắc Q, Bùi Cao Duyên Minh T3 và Lê Văn P1 đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền và thu giữ trên chiếu bạc số tiền 10.650.000 đồng cùng các tang vật khác liên quan đến hành vi đánh bạc. Cụ thể: thu giữ tại vị trí ngồi của Bùi Quang P số tiền là 3.150.000 đồng; tại vị trí ngồi của Bùi Cao Minh D1 Tựu số tiền 4.750.000 đồng; tại vị trí ngồi của Trần Đắc Q số tiền là 1.150.000 đồng; tại vị trí ngồi của Lê Văn P1 bỏ chạy số tiền là 1.050.000 đồng; thu giữ trong hộp nhựa số tiền là 550.000 đồng. Công an khám xét túi quần áo các con bạc thì thu được số tiền 3.650.000 đồng từ Bùi Quang P và 900.000 đồng từ Trần Đắc Quang. Khi bắt quả tang, Lê Văn P1 đã bỏ chạy thoát.
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 11 giờ ngày 05/8/2024, Bùi Cao Minh Duyên T1, Lê Văn P1, Trần Đắc Q và Bùi Quang P đến rẫy của ông Đổng Hồng Đ thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai chơi. Sau đó, T1, Văn P1, Q, Quang P cùng rủ nhau chơi đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý tham gia. Lúc này, Q đi mua 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá, T1 lấy 01 (một) cái mền kích thước 160cm X 220cm có hoa văn màu đỏ trải ra bàn để làm chiếu bạc. Tựu, Q, Văn P1, Quang P thống nhất đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền và thỏa thuận nếu ai thắng bài “ù” hoặc “ù tròn” thì sẽ phải trích ra số tiền 50.000 đồng, gom lại để chơi xong rồi cùng đi nhậu. Đến khi phát hiện bắt quả tang thì đã gom được số tiền 550.000 đồng đựng trong 01 (một) hộp nhựa hình trụ rỗng kích thước (đường kính 14cm, chiều cao 16cm) để trên vị trí giữa bàn ngồi đánh bạc. Tựu, Q, Quang P không nhớ cụ thể số ván “ù” hoặc “ù tròn” của mỗi người.
Hình thức đánh bài “Phỏm” là: Các bị can T1, Q, Văn P1, Quang P sử dụng 01 (một) bộ bài tây 52 lá, chia đều cho mỗi người chơi 09 lá bài, riêng người chia bài (người làm cái) được chia 10 lá, số lá bài còn lại trong bộ bài được đặt trên chiếu bạc gọi là bài Nọc, các con bạc quy định 03 lá bài giống nhau trở lên hoặc 03 lá bài đồng chất liên tiếp trở lên gọi là P2. Người chơi đầu tiên sẽ đánh ra 01 lá bài, người tiếp theo sẽ ăn lá bài đó nếu nó hợp với các lá bài có sẵn trên tay tạo thành Phỏm, nếu không thì người tiếp theo phải bốc một lá bài ở bài Nọc. Sau khi ăn hoặc phải bốc bài, người chơi phải đánh ra 01 lá bài, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi hết vòng. Ván bài sẽ kết thúc khi có một người chơi “ù” và nếu không có ai “ù” thì sau 04 lượt ván bài sẽ kết thúc. Khi đánh lượt cuối, người chơi phải hạ tất cả phỏm mình đang có rồi mới đánh quân cuối cùng. Ai ít điểm nhất trong bàn sẽ là người thắng cuộc. Số điểm của mỗi lá bài là số trên lá bài đó, riêng các lá A, J, Q, K sẽ được tính điểm lần lượt là 1, 11, 12, 13. Trong trường hợp điểm số bằng nhau, người hạ bài trước được xử thắng, người hạ bài sau sẽ bị xử thua. Người chơi không có phỏm nào (cháy) sẽ bị tính về cuối.
Các đối tượng quy định số tiền thắng thua như sau: Người về nhất ăn hết số tiền của 03 người còn lại, người về nhì thua số tiền 50.000 đồng, người về ba thua số tiền 100.000 đồng, người về cuối thua số tiền 150.000 đồng, còn người nào bị cháy thì thua số tiền 200.000 đồng. Nếu có người “ù” hay “ù tròn” thì người chơi thua phải trả cho người đó số tiền 200.000 đồng. Trong ván bài, nếu người nào ăn được quân bài đầu tiên thì sẽ được 50.000 đồng, ăn quân bài thứ hai sẽ được 100.000 đồng, ăn quân bài thứ ba thì được 150.000 đồng và người bị để mất 03 quân bài sẽ phải đền số tiền “ù tròn” cho cả 03 người, nếu người nào ăn được lá bài chốt hạ thì sẽ được 200.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi Bùi Cao Minh Duyên T1, Trần Đắc Q, Bùi Quang P và Lê Văn P1 đang đánh bạc thì bị Cơ quan Công an xã X phát hiện, bắt quả tang. Số tiền dùng để đánh bạc và kết quả thắng, thua của từng con bạc cụ thể như sau:
- Bùi Cao Minh Duyện T4 sử dụng số tiền 3.150.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang thì T4 chơi được khoảng 20 ván, thắng số tiền 1.600.000 đồng. Công an đã phát hiện thu giữ tại chiếu bạc nơi vị trí T4 ngồi số tiền 4.750.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Realme màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, đã qua sử dụng, bị nứt mặt sau.
- Trần Đắc Q sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang thì Q chơi được khoảng 20 ván, thắng số tiền 50.000 đồng. Công an đã phát hiện thu giữ tại chiếu bạc nơi vị trí Q ngồi số tiền 1.150.000 đồng và thu giữ trong người Quang số tiền 900.000 đồng. Qua điều tra chứng minh được Q đang và sẽ dùng số tiền 900.000 đồng thu giữ trong người để đánh bạc.
- Bùi Quang P vào rẫy của Đổng Hồng Đ gặp Lê Văn P1 (có hẹn từ trước) mượn tiền để sửa xe. Sau khi mượn được số tiền 2.000.000 đồng từ Lê Văn P1 thì Quang P sử dụng số tiền 2.000.000 đồng trên để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang thì Quang P thắng được số tiền 1.150.000 đồng. Công an đã phát hiện thu giữ tại chiếu bạc nơi vị trí Quang P ngồi số tiền 3.150.000 đồng và thu giữ trong người Quang Phú số tiền 3.650.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng. Qua điều tra không chứng minh được Quang P đang và sẽ dùng số tiền 3.650.000 đồng thu giữ trong người để đánh bạc.
* Vật chứng vụ án và xử lý:
- 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá; 01 (một) hộp nhựa hình trụ rỗng kích thước đường kính 14cm, chiều cao 16cm; 01 (một) cái mền kích thước 160cm x 220cm có hoa văn màu đỏ;
- Số tiền 10.650.000 đồng (mười triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) tiền ngân hàng N2 thu giữ trên chiếu bạc;
- Số tiền 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) tiền ngân hàng N2 thu giữ trên người Trần Đắc Q;
- Số tiền 3.650.000 đồng (ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng N2 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Quang P. Quá trình điều tra xác định, điện thoại di động và số tiền trên Quang P không sử dụng đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả số tiền và điện thoại trên cho Bùi Quang P;
- 01 (một) điện thoại di động Realme màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, bị nứt mặt sau, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Cao Minh Duyên T1. Quá trình điều tra xác định các điện thoại di động trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Bùi Cao Minh Duyên T1.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, Trần Đắc Q, Bùi Cao Minh Duyên T1 và Bùi Quang P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKSXL ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố các bị cáo Trần Đắc Q, Bùi Cao Minh Duyên T1 và Bùi Quang P về tội: “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Trần Đắc Q số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Bùi Cao Minh Duyên T1 số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Bị cáo Bùi Quang P số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu sung công số tiền 11.550.000 đồng (mười một triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy dụng cụ đánh bạc gồm: 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá; 01 (một) hộp nhựa hình trụ rỗng kích thước đường kính 14cm, chiều cao 16cm; 01 (một) cái mền kích thước 160cm x 220cm có hoa văn màu đỏ.
- Ý kiến của các bị cáo tại phiên tòa:
Các bị cáo thống nhất với Cáo trạng và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mô tả.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và phụ giúp cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra huyện X, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc thực hiện đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản lấy lời khai và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/8/2024, tại Khu đất rẫy của ông Đổng Hồng Đ, thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Trần Đắc Q, Bùi Cao Minh Duyên T1, Bùi Quang P và Lê Văn P1 cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi đang đánh bạc thì bị Công an xã X tiến hành kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc được số tiền 10.650.000 đồng và thu giữ trong người của Trần Đắc Q số tiền 900.000 đồng sẽ dùng để đánh bạc. Riêng đối với Lê Văn P1, khi Cơ quan Công an bắt quả tang đã bỏ chạy thoát. Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 11.550.000 đồng (mười một triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
Hành vi của các bị cáo Trần Đắc Q, Bùi Cao Minh Duyên T1, Bùi Quang P đã phạm vào tội “đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Bùi Cao Minh Duyên T1 và bị cáo Bùi Quang P có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng; Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là lao động chính trong gia đình (Bị cáo T1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo P có 02 con còn nhỏ). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Đắc Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên được xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và áp dụng hình phạt:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, trật tự tại địa phương; đồng thời gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình. Bản thân các bị cáo có đủ hiểu biết, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là hành vi bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng rủ nhau chơi đánh bài thắng thua bằng tiền. Trong đó, bị cáo Q là người đi mua bài, bị cáo T1 là người lấy mền làm chiếu bạc; bị cáo T1 đánh bạc với số tiền cao nhất là 4.750.000 đồng, sau đó đến bị cáo Q và bị cáo P. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Xét về nhân thân, bị cáo T1, bị cáo P có nhân thân tốt; Đối với bị cáo Trần Đắc Q, ngày 22/8/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 06 (S) tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 243/2013/HSPT ngày 22/8/2013, đến ngày 28/4/2014 chấp hành xong bản án trên. Xét thấy, thời gian bị cáo chấp hành xong hình phạt tính đến ngày phạm tội đã được xóa án tích nên được coi như chưa bị kết án.
Như đã phân tích ở trên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tiền, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người có ích cho xã hội; cũng đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự.
[5] Vật chứng, xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp khác:
- 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá; 01 (một) hộp nhựa hình trụ rỗng kích thước đường kính 14cm, chiều cao 16cm; 01 (một) cái mền kích thước 160cm x 220cm có hoa văn màu đỏ không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- Số tiền 10.650.000 đồng (mười triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) tiền ngân hàng N2 thu giữ trên chiếu bạc và 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) tiền ngân hàng N2 thu giữ trên người Trần Đắc Q. Đây là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
- Số tiền 3.650.000 đồng (ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng N2 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Quang P. Quá trình điều tra xác định, điện thoại di động và số tiền trên Quang P không sử dụng đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả số tiền và điện thoại trên cho Bùi Quang P là phù hợp quy định pháp luật;
- 01 (một) điện thoại di động Realme màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, bị nứt mặt sau, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Cao Minh Duyên T1. Quá trình điều tra xác định các điện thoại di động trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Bùi Cao Minh D1 Tựu là phù hợp quy định pháp luật.
[6] Đối với Lê Văn P1 đã có hành vi cùng Bùi Cao Minh Duyên T1, Trần Đắc Q, Bùi Quang P thực hiện hành vi đánh bạc, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn lệnh bắt bị can để tạm giam. Tuy nhiên, hiện Lê Văn P1 đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp.
[7] Về án phí: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố các bị cáo Trần Đắc Q, Bùi Cao Minh Duyên T1, Bùi Quang P phạm tội: “Đánh bạc”. - Hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Trần Đắc Q: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Bùi Cao Minh Duyên T1: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) - Xử phạt bị cáo Bùi Quang P: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá; 01 (một) hộp nhựa hình trụ rỗng kích thước đường kính 14cm, chiều cao 16cm; 01 (một) cái mền kích thước 160cm x 220cm;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 10.650.000 đồng (mười triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) tiền ngân hàng N2 thu giữ trên chiếu bạc và 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) tiền ngân hàng N2.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc và Giấy nộp tiền ngày 27/12/2024 tại A1, người nộp: Công an huyện X, người nhận: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc)
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc các bị cáo Trần Đắc Q, Bùi Cao Minh Duyên T1, Bùi Quang P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. - Quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Sương |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XỬ PHẠT TIỀN BỊ CÁO VÀ CÁC ĐỒNG PHẠM
