TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 21-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thiêm, bà Lê Thị Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai, tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Đình Q, tên gọi khác: Không; sinh năm 1970, tại: tỉnh Lào Cai; số CCCD: [...] ngày cấp: 04/12/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1. Nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường V, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn lớp: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1932 và bà Trần Thị T (đã chết); Vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Bản án số 737 ngày 27/5/1993, Toà phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao xử phạt 06 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản công dân”; Bản án số 24/HSST ngày 16/5/1995, Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 09 năm tù về các tội: Trộm cắp tài sản công dân và trốn khỏi nơi giam. Bản án số 25/2008/HSPT, ngày 12/6/2008, Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 04 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản; Bản án số 108/2012/HSST ngày 29/11/2012, Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Bản án số 49/2016/HSST, ngày 02/8/2016, bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/8/2025 giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh L, có mặt.
- Bị hại: Anh Phan Nguyên T1, sinh năm 1994 và chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai.
(Chị Nguyễn Thị M ủy quyền cho anh Phan Nguyên T1 tham gia tố tụng). anh T1 vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1932, địa chỉ: Tổ dân phố F, phường V, tỉnh Lào Cai, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12giờ 00 phút, ngày 28/7/2025, Nguyễn Đình Q một mình đi đến phòng trọ của Lê Thị H (là bạn của Q) có địa chỉ tại: tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai để chơi. Tại đây, Q quan sát thấy ngôi nhà của Phan Nguyên T1 (nhà sát bên cạnh) cửa ra vào không khoá và không có ai ở nhà. Q đã nảy sinh ý định vào trong nhà tìm tài sản để trộm cắp. Q liền chui qua hàng rào đi vào cửa trước, đến nơi thấy cửa khép hờ có khoá chốt bằng sắt dưới nền nhà, Q đã dùng tay kéo khoá chốt ra và mở cửa đi vào trong nhà. Khi vào trong nhà, Q đi vào phòng ngủ của T1 và dùng tay bật công tắc điện lên. Q thấy có 02 chiếc ví nữ treo ở sát tường, Q đã mở ra kiểm tra nhưng không có tài sản gì. Q nhìn lên nóc chiếc tủ nhựa, màu hồng kê trong phòng, thấy có để chìa khoá nên đã lấy chìa khoá mở ngăn kéo của chiếc tủ này ra. Tại ngăn kéo đầu tiên của chiếc tủ này, Q thấy có hai tập tiền, gồm nhiều tờ tiền mệnh giá: 500.000 đồng; 200.000 đồng; 100.000 đồng; 20.000 đồng, để lộn xộn ở trong ngăn kéo. Sau đó, Q lấy được 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và một số tờ mệnh giá: 200.000 đồng, 100.000 đồng, 20.000 đồng. Tổng cộng số tiền Q đã trộm cắp được là 5.720.000 đồng. Q cất số tiền đã trộm cắp được vào trong túi quần đang mặc trên người rồi đi về. Số tiền trộm cắp được, Q đã mua 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS màu đen, BKS: 21F1-3185 của Nguyễn Thành N với giá 1.000.000 đồng, số tiền còn lại Q đã chi tiêu cho cá nhân còn lại 220.000 đồng. Đến ngày 31/7/2025, khi bị cơ quan Công an phường Y triệu tập làm việc, Q đã tự nguyện giao nộp:
- - Số tiền 220.000 đồng.
- - 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS màu đen, BKS: 21F1 - 3185; 01 đăng ký xe môtô xe máy số 000786 mang tên Nguyễn Thành N.
* Tại bản kết luận giám định số: 427/KL-KTHS ngày 20/8/2025, của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng do Nguyễn Đình Q giao nộp trên gửi giám định đều là tiền thật. Tổng số tiền gửi giám định là 220.000đồng,
Bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-KV1, ngày 20/10/2025, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Lào Cai truy tố Nguyễn Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- - Về trách nhiệm hình sự:
Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Đề nghị xử phạt: từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không
- Xử lý vật chứng và tài sản liên quan: Căn cứ Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước gồm: 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS màu đen, BKS: 21F1 – 3185, kèm theo 01 đăng ký xe môtô xe máy số 000786 mang tên Nguyễn Thành N.
- Về trách nhiệm dân sự: Không
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, Kiểm sát viên, Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh L trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, tuy nhiên sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với một phần lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ, ngày 28/7/2025, tại nhà ở của anh Phan Nguyên T1 ở địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai. Nguyễn Đình Q đã thực hiện hành vi trộm cắp tổng số tiền: 5.720.000 đồng của anh Phan Nguyên T1, chị Nguyễn Thị M. Anh Phan Nguyên T1, chị Nguyễn Thị M xác định số tiền bị mất khoảng 28 triệu đồng nhưng không cung cấp được thêm tài liệu chứng cứ để chứng minh, anh chị không có ý kiến gì về số tiền bị cáo khai nhận đã chiếm đoạt. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo số tiền: 5.720.000 đồng là có căn cứ.
[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động bản thân, nhận thức được trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn và trị an cho xã hội. Động cơ, mục đích phạm tội là vụ lợi cá nhân. Do vậy, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội xâm phạm sở hữu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để cảnh tỉnh, sửa đổi thành người có ích cho xã hội mà còn tiếp tục thực hiện tội phạm, thể hiện ý thức tự rèn luyện của bản thân là rất kém.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tham gia tố tụng đã thành khẩn khai báo. Mặc dù bị cáo có 05 lần bị kết án nhưng đều đã được xóa án tích, mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phạt tù đến 03 năm, theo quy định tại khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-9-2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn. Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố đẻ bị cáo là thương binh, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhất nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản nên không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:
- - Đối với số tiền 220.000đồng còn lại do bị cáo phạm tội mà có, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L trao trả số tiền trên cho chủ sở hữu hợp pháp anh Phan Nguyên T1 là phù hợp.
- - 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS màu đen, BKS: 21F1 - 3185; 01 đăng ký xe môtô xe máy số 000786 mang tên Nguyễn Thành N do bị cáo mua của anh Nguyễn Thành N, bị cáo không đề nghị nhận lại đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã nhờ bố đẻ là ông Nguyễn Đình C bồi thường cho bị hại thay bằng tiền của bị cáo số tiền 5.000.000đồng, bị hại không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét.
[9] Đối với Nguyễn Thành N: Quá trình điều tra xác định, ngày 30/7/2025, N là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS màu đen, BKS: 21F1-3185, đã bán chiếc xe này cho Nguyễn Đình Q. N không biết tiền mà Q dùng để mua xe môtô là do trộm cắp mà có. Vì vậy, không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thành N trong vụ án này.
Anh Phan Nguyên T1, chị Nguyễn Thị M trình bày bị mất trộm số tiền 28.000.000 đồng, quá trình điều tra anh chị không cung cấp được các tài liệu liên quan chứng minh số tiền mình bị mất. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Đình Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2025.
- Về xử lý đồ vật thu giữ: Căn cứ Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS màu đen, BKS: 21F1 – 3185 số máy 16S2101341, số khung RLCS16S209Y101351, tình trạng xe đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe môtô xe máy số 000786 mang tên Nguyễn Thành N.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Đình C) được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a. 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Văn |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Q - trộm cắp tài sản
