|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 26-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hai và bà Nguyễn Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Phước Dư - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1997, tại huyện C, tỉnh T. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Mộng K; vợ thứ nhất: Trương Thanh H, sinh năm 1997, đã ly hôn; vợ thứ hai: Lý Thị Thu N, sinh năm 1986, đã ly hôn; con: Trần Ngọc A, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam ngày: Không. Hiện, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn T, sinh ngày 14/10/1997, nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, do không có nghề nghiệp ổn định nhưng để có việc làm nên bị cáo T đã lên mạng xã hội Facebook tìm mua giấy phép lái xe hạng FC giả, nhằm tìm chỗ xin làm tài xế lái xe và nhằm mục đích đối phó lực lượng Cảnh sát giao thông khi bị kiểm tra. Do đó, vào ngày 08/4/2024 bị cáo T đã dùng điện thoại di động vào tài khoản Facebook cá nhân của mình tên “Tân Trần”, lướt thấy có tài khoản tên “Trung Tâm L” giới thiệu nhận làm giấy phép lái xe giả nên bị cáo T nhắn tin với tài khoản này để tìm hiểu, rồi thỏa thuận đặt mua giấy phép lái xe hạng FC giả, với giá 1.000.000 đồng, bị cáo T đã cung cấp thông tin cá nhân cho tài khoản này để làm giấy phép lái xe. Đến ngày 22/4/2024, có 01 người nam giao hàng (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đến giao cho bị cáo 01 giấy phép lái xe, hạng FC, số: [...], mang tên Trần Văn T, bị cáo đưa cho người nam giao hàng này số tiền 1.000.000 đồng, rồi cất giữ giấy phép lái xe.
Đến khoảng tháng 06/2024, bị cáo Tân xin việc làm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S”, địa chỉ: số G, đường H, phường P, quận G, thành phố H, do ông Nguyễn Hoảng T2, sinh ngày 17/10/1994, nơi thường trú: số A, đường V, khu phố A, phường D, thị xã C, tỉnh T làm quản lý. Bị cáo T được ông T2 giao công việc là phụ xe cho các xe đầu kéo trong Công ty nhưng không có làm hợp đồng lao động. Trong thời gian đi theo các tài xế để phụ xe, bị cáo T được các tài xế dạy lái xe nên bị cáo T biết lái xe ô tô tải.
Ngày 07/9/2024, Công ty S” cần tài xế điều khiển xe đầu kéo để chở hàng, bị cáo T nói có giấy phép lái xe hạng FC nên ông T2 tin tưởng, giao cho bị cáo T điều khiển xe đầu kéo biển số 50H-354.52, kéo theo sơ mi rơ móc tải biển số 50R-047.49 đến kho gạo “T", thuộc thành phố S, tỉnh Đ để chở gạo. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, bị cáo T điều khiển phương tiện nói trên chạy vào đường N của thành phố S có biển cấm phương tiện xe đầu kéo nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe chạy vào nên bị Tổ tuần tra kiểm soát của Đội Cảnh sát Giao thông - Trật tự Công an thành phố S phát hiện, dừng phương tiện kiểm tra hành chính. Lúc này, bị cáo T xuất trình Giấy phép lái xe hạng FC, số: [...] cho Tổ tuần tra kiểm tra. Qua đó, Tổ tuần tra lập biên bản vi phạm hành chính đối với bị cáo Trần Văn T về hành vi vi phạm hành chính nêu trên, đồng thời tạm giữ 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số: [...], mang tên Trần Văn T và gửi giám định là Giấy phép lái xe giả.
Tại kết luận giám định số 1323/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy phép lái xe hạng FC, số I, mang tên Trần Văn T là giả.
Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- - 01 Giấy phép lái xe giả, hạng FC, số [...], mang tên Trần Văn T;
- - 01 điện thoại di động, hiệu HONOR, loại X5 PLUS, màu xanh dương, không có sim số bên trong, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng, là điện thoại mà bị cáo T sử dụng trực tiếp để nhắn tin đặt mua giấy phép lái xe giả.
Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS-TPSÐ ngày 28/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố; phân tích, nhận định hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng theo quy định.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo không bào chữa, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, nội dung cáo trạng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ đó, đủ cơ sở xác định:
Để có được điều kiện xin việc làm, bị cáo Trần Văn T đã tìm đặt mua trên mạng xã hội của người không rõ thông tin, lai lịch 01 giấy phép lái xe hạng FC; bị cáo nhận thức được là giấy phép lái xe giả nhưng vẫn cất giữ và sử dụng. Vào ngày 07/9/2024, bị cáo T điều khiển xe đầu kéo biến số 50H-354.52, kéo theo sơ mi rơ móc tải biển số: 50R-047.49 chạy vào đường N, thuộc khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ, thuộc khu vực đường cấm xe đầu kéo đang điều khiển nên bị Cảnh sát Giao thông - Trật tự Công an thành phố S, phát hiện, dừng phương tiện kiểm tra hành chính và bị cáo T đã xuất trình giấy phép lái xe giả nêu trên để đối phó với lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ; đây là hành vi trái pháp luật. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại Điều 341của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”....
[3]. Xét thấy: Hành vi của bị cáo mua giấy phép lái xe giả sử dụng để hợp thức hóa trong điều khiển phương tiện ô tô tham gia giao thông là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo biết rõ giấy phép lái xe bị cáo có được, đang sử dụng là giả, việc sử dụng giấy giả đối phó với sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về tài liệu hoặc giấy tờ khác; vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông; gián tiếp gây nguy hiểm đến tính mạng, tài sản của người tham gia giao thông. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện.
[4]. Nhận thấy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là khách quan, toàn diện; hoàn toàn phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo, giáo dục; đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có có ông nội tên Trần Văn H1 là Thương binh hạng 4/4, bà nội Lê Thị B được tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhì nên được xét thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu; từ thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cho đến nay, bị cáo không vi phạm pháp luật; ông, bà bị cáo là người có công và hiện bị cáo là lao động chính nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật.
[7]. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8]. Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng là 01 Giấy phép lái xe giả, hạng FC, số [...], mang tên Trần Văn T là vật chứng chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục quản lý, lưu hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại di động, hiệu HONOR, loại X5 PLUS, màu xanh dương, không có sim số bên trong, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng, là điện thoại của bị cáo sử dụng để nhắn tin đặt mua giấy phép lái xe giả; đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố:
Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T mức án 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tiếp tục quản lý, lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe giả, hạng FC, số [...], mang tên Trần Văn T.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, hiệu HONOR, loại X5 PLUS, màu xanh dương, không có sim số bên trong, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng của Trần Văn T.
(Hiện vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/3/2025).
-
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Bị cáo Trần Văn T phải chịu 2000.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Anh |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 3 tháng tù
