Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 20-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An

Ông Phùng Đình Chúc

Bà Bùi Thị Bích Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P

sinh ngày 17/8/1989 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ D, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị T; có vợ là Vũ Thị L (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/7/2024, tạm giam ngày 05/8/2024 (có mặt);

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P: Bà Nguyễn Thị Kim Q – Luật sư, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V (có mặt);

- Bị hại: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B phố C, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở: Thôn G, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1986; trú tại: Tổ D, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Tuấn V, sinh năm 1976; trú tại: Số B phố S, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

+ Bà Trần Thị T2, sinh năm 1967; trú tại: Số B phố S, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

+ Bà Liễu Minh N, sinh năm 1976; trú tại: Số B phố S, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

+ Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1964; trú tại: Tổ dân phố F, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn P và chị Vũ Thị L kết hôn với nhau từ năm 2012 và sinh sống tại nhà ở của gia đình P tại tổ D, phường T (nay là H), thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. P và chị L đã có với nhau 02 người con chung là Nguyễn Quang H, sinh năm 2013 và Nguyễn Quang H1, sinh năm 2017. Ngày 26/4/2024, P và chị L đã ly hôn với nhau theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên. Ngày 26/7/2024, P đến gặp chị L để hỏi vay tiền với lý do cần tiền để chữa bệnh cho bố P là ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1959, trú tại tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng chị L không đồng ý cho vay. Thấy vậy, P cảm thấy bực tức, vùng vằng rồi đi về nhà thì chị L có gọi điện thoại cho P nói: “Mày không chạy nhanh thì chúng nó đánh cho”, mục đích dọa P để P không đến làm phiền chị L nữa.

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 27/7/2024, P từ nhà một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 88H1 – 074.63 mang theo 01 con dao (dao có đặc điểm: Dao bằng kim loại, dạng bấm gập, dài 20cm; có chuôi bằng kim loại, dài 11,5cm; lưỡi dao bằng kim loại, dài 8,5cm, mũi dao nhọn, phần lưỡi dao chỗ rộng nhất là 2,5cm) để trong túi quần bên phải rồi đi đến gặp chị L đang bán vé số ở trước cửa hiệu thuốc số 2, phố S, tổ G, phường T, thành phố P để nói chuyện. Khi đến nơi, P dựng xe ở lề đường rồi đi bộ đến chỗ chị L. P và chị L ngồi nói chuyện về nội dung vay tiền khoảng 10 phút thì cả hai người xảy ra mâu thuẫn. P yêu cầu chị L đi về nhà để nói chuyện nhưng chị L không đồng ý và yêu cầu P đi về thì P nói: “Nếu không về cùng tao để nói chuyện thì tao sẽ giết chết ngay tại đây”. Chị L sờ vào túi quần của P thì thấy có vật gì giống dao nên chị L bỏ chạy. Khi thấy chị L bỏ chạy, P dùng tay phải rút con dao nhọn trong túi quần P, bấm bật phần lưỡi dao ra rồi P chạy đuổi theo chị L đến trước nhà số H, phố S, tổ G, phường T, thành phố P với mục đích đâm chết chị L. Khi đuổi kịp, P dùng tay trái túm lấy vai chị L rồi vòng tay trái qua cổ chị L, tay phải đang cầm dao đâm 01 nhát vào sau lưng chị L làm chị L ngã ra vỉa hè. P cúi người xuống tiếp tục cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực, vùng bụng, vai của chị L. Khi bị đâm, chị L đưa tay, chân lên để tránh đỡ nên bị dao đâm vào tay nhưng P vẫn tiếp tục dùng dao đâm vào người chị L. Lúc này có anh Phạm Tuấn V chạy lại can ngăn, xô đẩy P ra và nhiều người dân xung quanh cũng hô hoán và chạy đến can ngăn thì P mới dừng lại rồi nhanh chóng lên xe, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 88H1 – 074.63 mang theo con dao đi về nhà bỏ mặc chị L đang nằm ở đó. Chị L được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ rồi chuyển đến Bệnh viện H2, Hà Nội để cấp cứu, điều trị, sau đó điều trị tiếp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L. Nhận được tin báo, Công an phường T đã đến ngay hiện trường và báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo quy định.

Đến 17 giờ 00 phút ngày 27/7/2024, P đã đến Công an phường T, thành phố P đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, trích xuất camera và tiến hành điều tra theo quy định.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ án xảy ra tại vỉa hè bên phải đường P, hướng đi phường T thuộc Tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện trường có hướng Bắc nhìn hướng đi phường T và nhìn vào quán nước T4, hướng N1 nhìn ra phố Y, hướng Tây tiếp giáp với đường phố S, hướng Đông tiếp giáp với số nhà 08, phố S và nhà thuốc số 01, nhà thuốc số 02.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường từ phố S vào trong vỉa hè, phố S có lòng đường rộng 10,1m, vỉa hè phía bên phải phố S hướng đi phường T có chiều rộng là 6,1m. Tại vị trí được ký hiệu (1) trong sơ đồ hiện trường là vị trí 01 (một) bàn kim loại, bàn dạng gập, có kích thước (0,8 x 0,55 x 0,7)m, chân bàn cách mép vỉa hè là 0,25m, cách cột điện (2.4.5)1/TBA là 5,7m. Phía trong của bàn có 01 ghế nhựa màu đỏ kích thước (0,27 x 0,22 x 0,45)m, cách bàn kim loại 0,2m là 03 ghế nhựa màu đỏ được xếp chồng lên nhau có kích thước (0,2 x 0,2 x 0,3)m; cách bàn kim loại là 0,15m, phía bên phải của bàn kim loại theo hướng từ ngoài vào trong có 01 trụ bê tông cài cắm ô che. Cách vị trí (1) 9,15m về phía số nhà H, phố S và nhà thuốc số 01 phát hiện đám chất dịch màu nâu đỏ trên vỉa hè có kích thước (1 x 0,76)m được ký hiệu (2) trong sơ đồ hiện trường, tâm (2) cách mép vỉa hè là 5,7m. Cách tường của quán N2 4,4m, cách tường bên phải nhà 08 phố S theo hướng từ ngoài vào trong là 0,9m. Tại vị trí được ký hiệu (3) trong sơ đồ hiện trường phát hiện 01 dép lê bên chân phải màu trắng đục có kích thước (0,24 x 0,1 x 0,12)m ở trên bậc thềm thứ nhất của nhà thuốc số A, (3) cách mép nhà bên trái của nhà thuốc số 01 là 0,45m, cách tâm (2) là 0,65m. Tại vị trí được ký hiệu (4) trong sơ đồ hiện trường phát hiện 01 chiếc dép lê bên chân trái màu trắng đục có kích thước (0,24 x 0,1 x 0,12)m và 01 mũ vải màu đen có lưỡi chai hở đầu, tất cả trên diện (0,65 x 0,25)m; tâm (4) cách tâm (2) là 0,7m, cách mép nhà bên phải của nhà số H, phố S là 0,95m; chiếc dép lê bên chân trái ở trên vỉa hè; mũ lưỡi chai vải một phần trên vỉa hè một phần trên bậc thềm thứ nhất của nhà số H, phố S.

Ngoài ra không phát hiện dấu vết, đồ vật khác có liên quan đến vụ án.

Tổn hại sức khoẻ và kết quả giám định thương tích của chị L:

-Tại Biên bản làm việc hồi 17 giờ 40 phút ngày 27/07/2024, Phòng Khám chấn thương chỉnh hình – Bệnh viện Đ cung cấp: Bệnh nhân Vũ Thị L – sinh năm 1990, HKTT: Phường T - P - Vĩnh Phúc nhập viện hồi 16 giờ 19 phút ngày 27/7/2024, được chẩn đoán là: Đa vết thương, vết thương ngực hở, vết thương bụng, vết thương vùng lưng, vết thương cẳng tay trái. Bệnh nhân được hồi sức tích cực, truyền dịch giảm đau, khâu kín vết thương vùng ngực, lưng, thở oxy, băng ép vết thương cầm máu, đặt sonde tiểu chuyển Bệnh viện H2.

- Tại Bệnh án của Bệnh viện H2 đối với Vũ Thị L có nêu: “Vào viện: 27/7/2024; ra viện: 01/8/2024; lý do vào viện: Tai nạn bạo lực. Tình trạng vào viện: Tỉnh, mạch 80 lần/ phút, huyết áp 120/70 mmHg, da niêm mạc hồng nhạt, 04 vết thương ngực 02 bên KT (1 x 2)cm đã khâu, rì rào phế nang giảm 02 phổi; 01 vết thương vùng lưng trái KT (2 x 1)cm sắc gọn, đã khâu; 01 vết thương vùng hạ vị KT (2 x 1)cm, sắc gọn, chưa khâu; 01 vết thương 1/3 trên cánh tay trái mặt trước ngoài KT (2 x 1)cm sắc gọn, lộ cân cơ; 01 vết thương 1/3 giữa, dưới cẳng tay trái mặt sau, lộ gân; vận động cổ bàn tay trái kém, tê bì đầu ngón.

- CT.Scaner ngực: Hình ảnh tràn dịch, tràn khí khoang màng phổi 02 bên. Xẹp thụ động nhu mô phổi sát thành ngực sau. Theo dõi tổn thương đụng dập nhu mô phổi 02 bên. Vài dải xẹp phổi nhu mô phổi trái. Tụ khí dưới da phần mềm thành ngực trước – bên phải, thành ngực trước bên trái. Gãy xương sườn 3, 4 bên phải và 8, 9 bên trái.

- Chẩn đoán: Đa vết thương phần mềm/ Tràn máu tràn khí màng phổi 2 bên, gãy xương sườn 3, 4 phải 8, 9 trái.

- Điều trị: Mổ cấp cứu: Dẫn lưu màng phổi 2 bên. Kiểm tra thấy 01 vết thương mặt trước ngoài cánh tay trái kích thước 3x1cm, bờ sắc gọn, đáy sâu, hướng về lên phía vai trái. Mở rộng vết thương thấy đứt bán phần cơ delta, đầu ngắn cơ nhị đầu, không tổn thương mạch máu, thần kinh. 01 vết thương mặt sau 1/3 giữa dưới căng tay trái phía bờ quay 3x1cm, bờ sắc gọn, đáy sâu, thăm dò thấy đứt bán phần cơ gấp cổ tay quay, cơ gan tay dài, đứt bán phần gân cơ dạng ngón cái dài. 01 vết thương mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái 4x1cm, đâm xuyên ra phía trước, mở rộng kiểm tra thấy vết thương đâm xuyên qua cơ duỗi cổ tay quay dài ngắn, cơ duỗi chung các ngón, đứt bán phần thần kinh gian cốt sau, rách màng gian cốt cánh tay, mở mặt trước cẳng tay kiểm tra thấy đứt cơ ngửa sát điểm bám nguyên ủy, đứt bán phần cơ cánh tay quay, cơ sấp tròn, cơ xung quanh vết thương tụ máu nhiều. Tiến hành cắt lọc, phẫu tích, bộc lộ, khâu nối cân cơ, khâu bao thần kinh gian cốt sau. Nẹp bột cánh cẳng bàn tay.

-Ngày 29/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P ra Quyết định trưng cầu giám định số 1018/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh V giám định tỷ lệ thương tích của chị Vũ Thị L. Cùng ngày, Trung tâm Pháp y tỉnh V có Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 295/KLTTCT-PYVP, kết luận thương tích của chị Vũ Thị L như sau:

“ Các kết quả chính:

  • - Vết thương phần mềm vùng hạ vị lệch trái, kích thước nhỏ, xếp: 01%.
  • - Vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 2-3 bên phải, kích thước nhỏ, xếp: 01%.
  • - Vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 3-4 bên phải, kích thước nhỏ, xếp: 01%.
  • - Vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 2-3 bên trái, kích thước nhỏ, xếp: 01%.
  • - Vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 4-5 bên trái, kích thước nhỏ, xếp: 01%.
  • - Vết thương phần mềm ngang nếp lằn cánh tay ngực trái, kích thước trung bình, xếp: 02%;
  • - Vết thương phần mềm 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái, kích thước trung bình, xếp: 02%.
  • - Vết thương phần mềm 1/3 trên mặt ngoài sau cẳng tay trái, kích thước trung bình, xếp: 02%.
  • - Vết thương phần mềm 1/3 giữa mặt trước cẳng tay trái, kích thước trung bình, xếp: 02%.
  • - Vết thương phần mềm cạnh cột sống lệch trái, kích thước nhỏ, xếp: 01%.
  • - Hiện tại: Gãy các xương sườn và các tổn thương đã mô tả trên đang trong quá trình điều trị, khi nào điều trị ổn định và xác minh giám định bổ sung.
  • - Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích đã mô tả trên có thể do vật sắc gây nên.

Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần không có mục xác định thương tích có phải là vùng trọng yếu, gây nguy hiểm đến tính mạng cố tật và ảnh hưởng thẩm mỹ.

Kết luận: Theo Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Thị L tại thời điểm giám định là: 13% (mười ba phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.”

-Ngày 09/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 2626/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh V giám định bổ sung thương tích của chị Vũ Thị L. Ngày 15/10/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh V có Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 425/KLTTCT-PYVP, kết luận thương tích của chị Vũ Thị L như sau:

“ Các kết quả chính:

  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng hạ vị lệch trái kích thước trung bình xếp: 02%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 4, 5 bên phải kích thước trung bình xếp: 02%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm khoang liên sườn 2, 3 bên phải đường nách trước kích thước nhỏ xếp: 01%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 3,4 bên phải đường nách trước kích thước nhỏ xếp: 01%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 2, 3 bên trái đường nách trước kích thước nhỏ xếp: 01%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 4, 5 bên trái đường nách kích thước nhỏ xếp: 01%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 2, 3 đường nách trước bên trái vòng ra 1/3 trên mặt trước ngoài cánh tay trái kích thước trung bình xếp: 02%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm tương ứng khoang liên sườn 4, 5 đường nách giữa bên trái kích thước trung bình xếp: 02%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa lưng trái kích thước nhỏ xếp: 01%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm từ nếp lằn khuỷu tay trái xuống 1/3 trên mặt trước trong cẳng tay trái kích thước trung bình xếp: 02%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt sau ngoài cẳng tay trái kích thước trung bình xếp: 02%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa mặt sau ngoài cẳng tay trái kích thước trung bình xếp: 02%;
  • - Gãy xương sườn 8, 9 trái xếp mỗi xươn : 02%; 02%;
  • - Gãy xương sườn 2, 3, 4 bên phải xếp mỗi xương: 02%; 02%; 02%;
  • - Tổn thương màng phổi hai bên hiện tại không còn hình ảnh tràn máu màng phổi (không để lại di chứng) mỗi bên xếp: 04%; 04%;
  • - Theo dõi tổn thương thần kinh giữa – quay, đứt bán phần thần kinh gian cốt sau (Tê bì cẳng tay trái, giảm cảm giác bàn tay trái và các ngón tay bên trái. Động tác gấp duỗi ngón 3 bàn tay trái) không có trong danh mục, không đủ căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương này. Đề nghị giám định tại Viện Pháp y Q1 để có căn cứ đánh giá xếp tỷ lệ tổn thương này.

Kết luận: Theo Thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Thị L tại thời điểm giám định là: 31% (ba mươi mốt phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư.

-Ngày 28/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 2754/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Q1 giám định bổ sung thương tích của chị Vũ Thị L theo nội dung Kết luận giám định bổ sung số 295/KLTTCT-PYVP ngày 15/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V. Ngày 04/11/2024, Q1 có Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 189/KLTTCT-PYQG, kết luận thương tích của Vũ Thị L như sau:

Các kết quả chính:

  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng cánh – cẳng tay trái đã được cho tỷ lệ tổn thương cơ thể tại Kết luận giám định bổ sung số 295/KLTTCT-PYVP tổn thương cơ thể trên người sống số 425/KLTTCT-PYVP ngày 15/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V.
  • - Tổn thương nhánh thần kinh quay bên trái đoạn cẳng tay.

Kết luận:

  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương nhánh thần kinh quay đoạn cẳng tay của Vũ Thị L tại thời điểm giám định là: 11% (mười một phần trăm).
  • - Trong giám định pháp y không xác định “cố tật”, tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định tại thời điểm giám định.
  • - Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tổn thương nhánh thần kinh quay đoạn cẳng tay với “Kết luận giám định bổ sung số 295/KLTTCT-PYVP tổn thương cơ thể trên người sống” số 425/KLTTCT-PYVP ngày 15/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V là: 39% (ba mươi chín phần trăm) áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư.”

Kết quả giám định sinh học: Ngày 02/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P có Quyết định trưng cầu giám định số 1053/QĐ-ĐCSHS, T5 Bộ C giám định sinh học đối với các dấu vết thu tại hiện trường với các đồ vật, tài liệu thu được. Ngày 13/9/2024 V1 Bộ C có Kết luận giám định số 5927/KL-KTHS, kết luận:

“- Trên chiếc quần soóc, chiếc áo phông và con dao gửi giám định đều bám dính máu người và đều là máu của Nguyễn Văn P, không phát hiện thấy máu của Vũ Thị L.

- Mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường gửi giám định là máu người và là máu của Vũ Thị L, không phải máu của Nguyễn Văn P.

- Lưu kiểu gen (theo bộ K) của Vũ Thị L và Nguyễn Văn P tại V1 - Bộ C.”

Kết quả giám định kỹ thuật số điện tử: Ngày 06/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P có Quyết định trưng cầu giám định số 1085/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 đoạn video trích xuất từ Camera thu tại hiện trường. Ngày 10/9/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 2605/KLGĐ-KTHS, kết luận:

“Trích xuất được 16 (mười sáu) ảnh theo yêu cầu giám định. Đặc điểm, hành động của đối tượng xuất hiện trong tệp video được mô tả trong Phụ lục kèm theo. Cụ thể:

Ảnh 1-2: Hình ảnh một người mặc áo màu xanh, đầu đội mũ (ký hiệu N1) ngồi nói chuyện với 01 người nam giới mặc áo ngắn tay (ký hiệu N2). Sau đó N1 và N2 xảy ra xô xát với nhau.

Ảnh số 3-4: Hình ảnh N1 bỏ chạy, lúc này N2 rút một vật (không rõ đặc điểm) từ túi quần bên phải đuổi theo N1.

Ảnh 5-6: Hình ảnh N2 tay phải cầm vật rút ra từ túi quần bên phải đâm vào người N1.

Ảnh 7-12: Hình ảnh N2 tay cầm vật tả trên đâm liên tiếp vào người N1.

Ảnh 13-14: Hình ảnh một người nam giới mặc áo màu trắng chạy đến can ngăn N2.

Ảnh 15-16: Hình ảnh N2 đi về phía chiếc xe mô tô dựng ở lề đường sau đó lên xe, điều khiển phương tiện rời khỏi hiện trường”.

Kết quả nhận dạng: Ngày 31/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiến hành cho anh Phạm Tuấn V, sinh năm 1976, bà Trần Thị T2, sinh năm 1967, bà Liễu Minh N, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1964 đều trú tại phường T, thành phố P là những người chứng kiến toàn bộ nội dung sự việc P đâm dao vào chị L xảy ra ngày 27/7/2024 tại phường T, thành phố P tiến hành nhận dạng. Kết quả cả 04 người nêu trên đều nhận dạng chính xác người đã dùng dao đâm chị Vũ Thị L ngày 27/7/2024 tại phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc là Nguyễn Văn P.

Các đồ vật, tài liệu đã thu giữ, tạm giữ và xử lý:

  • - 02 chiếc dép lê gồm 1 chiếc bên chân phải và 1 chiếc chân trái; 01 chiếc mũ vải lưỡi trai; 01 chiếc balo, màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát: 24K7-8355, số khung: Y683320, số máy: HC09E-0683476. Các đồ vật, tài sản này là của chị L, không phải là vật chứng. Ngày 09/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2627 và trả lại cho chị L các đồ vật, tài sản này.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airbale, màu đỏ, đen, gắn biển kiểm soát 88H1-074.63 mà P điều khiển hôm xảy ra sự việc. Kết quả điều tra xác định xe này là của ông Nguyễn Văn B (bố đẻ P ông B đang bị tai biến phải đi cấp cứu), do P không có xe, nên có mượn xe của ông B để lấy phương tiện đi lại;
  • - 01 quần sóoc ngắn, màu nâu, 01 áo cộc màu nâu, viền cổ đen, trắng (là của P, do P giao nộp để phục vụ cho giám định).
  • - 01 con dao bằng kim loại, loại bấm gập, dài 20cm, có chuôi bằng kim loại dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao nhọn, phần lưỡi dao chỗ rộng nhất là 2,5cm, đang ở trạng thái mở dao (là hung khí P dùng đâm chị L).
  • - Mẫu tóc thu của Vũ Thị L, mẫu tóc thu của Nguyễn Văn P (trả lại sau giám định).

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra chị L yêu cầu Nguyễn Văn P phải bồi thường cho L số tiền 245.200.000đ, gồm các khoản như sau: Chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện H2 và Bệnh viện Đa khoa tỉnh L và tiền mua thuốc: 13.500.000đ; Chi phí điều trị phục hồi chức năng khoảng 70 ngày, trong đó gồm tiền ăn, tiền thuốc, tiền tập thêm ngoài giờ...trung bình khoảng 400.000đ/01 ngày là 70 ngày x 400.000đ = 28.000.000₫ và tiền xe thuê 800.000₫ là 28.800.000đ; Chi phí ăn uống từ ngày 27/7/2024 đến ngày 21/8/2024 tại Bệnh viện H2 và Bệnh viện Đa khoa tỉnh L là: 6.500.000đ; Chi phí thu nhập bị mất do không thể tham gia lao động, ước tính thời gian không thể tham gia lao động khoảng 05 tháng = 150 ngày. Mỗi ngày trung bình thu nhập khoảng 400.000đ, số tiền là: 150 ngày x 400.000đ = 60.000.000đ; Chi phí tiền tàu xe, nhà trọ trong quá trình điều trị tại Bệnh viện H2 và Bệnh viện Đa khoa tỉnh L khoảng: 11.000.000đ; Chi phí của người chăm sóc không thể tham gia lao động: Tổng số ngày nằm viện 26 ngày và người đi chăm sóc không thể tham gia lao động là 400.000đ x 26 ngày = 10.400.000đ; Chi phí bồi thường tổn thất tinh thần và tổn hại sức khỏe: 115.000.000đ. Tại phiên tòa, chị L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Anh Nguyễn Ngọc T1 (là anh trai ruột của bị áo Nguyễn Văn P) thăm hỏi, động viên và đã giao cho chị Vũ Thị L số tiền 120.000.000đ.

Bản Cáo trạng số 08/CT-VKSVP-P2 ngày 22/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội "Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn P đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội "Giết người", áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn P từ 14 năm đến 15 năm tù, không phạt bổ sung, đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Về trách nhiệm dân sự:

Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại 120.000.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Phương trình B1: Đồng ý với đại diện Viện kiểm sát về tội danh áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức án thấp nhất cho bị cáo.

Bị hại chị Vũ Thị L trình bày: Chị xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị 120.000.000 đồng, nay chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc T1 trình bày: Quá trình điều tra, bị cáo P có đề nghị gia đình bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả và anh đã bồi thường cho bị hại 120.000.000 đồng, số tiền này là của anh, nay anh không yêu cầu bị cáo P phải trả lại anh. Hiện nay, bố anh là ông Nguyễn Văn B đang bị tai biến, không nhận thức được, không giao tiếp được nên anh đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe mô tô biển kiểm soát 88H1-074.63 cho anh.

Bị cáo Nguyễn Văn P nói lời sau cùng: Bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, lời khai của người làm chứng, biên bản kiểm tra hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định.... và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 27/7/2024, Nguyễn Văn P đã cầm theo 01 con dao nhọn (dao có đặc điểm: Là dao gấp bấm gập, dài 20cm, có chuôi bằng kim loại dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao nhọn, phần lưỡi dao chỗ rộng nhất là 2,5cm) đem theo từ nhà đến gặp chị Vũ Thị L (là vợ đã ly hôn của P) đang bán xổ số tại số B phố S, tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để vay tiền. Do không vay được tiền nên P và chị L xảy ra mâu thuẫn, P yêu cầu chị L đi về nhà P để nói chuyện nhưng chị L không đồng ý. P nói: “Nếu không về cùng tao để nói chuyện thì tao sẽ giết chết ngay tại đây”. Khi chị L thấy P cầm theo dao thì bỏ chạy, P rút dao nhọn ra rồi chạy đuổi theo chị L với mục đích đâm chết chị L. Khi đuổi kịp, P dùng tay trái túm lấy vai chị L rồi vòng tay trái qua cổ chị L, tay phải đang cầm dao đâm 01 nhát vào sau lưng chị L làm chị L ngã ra vỉa hè. P cúi người xuống tiếp tục cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực, vùng bụng, vai của chị L. Khi bị đâm, chị L đưa tay, chân lên để tránh đỡ nên bị dao đâm vào tay nhưng P vẫn tiếp tục dùng dao đâm vào người chị L. Chỉ khi có nhiều người chạy đến can ngăn, hô hoán, xô đẩy P ra thì P mới dừng lại rồi nhanh chóng lên xe, bỏ đi. Hậu quả: Chị L bị thương tích đa vết thương phần mềm, tràn máu, tràn khí màng phổi 02 bên, gãy xương sườn 3, 4 bên phải và 8, 9 bên trái, tổn hại 39% sức khoẻ.

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã dùng một con dao sắc nhọn đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng vai, ngực, bụng chị L là những vùng trọng yếu trên cơ thể người, nhằm tước đoạt tính mạng của chị L. Việc chị L không chết mà chỉ bị tổn hại 39% sức khoẻ là ngoài ý muốn của P.

Xét về tính chất mức độ thực hiện tội phạm, hung khí sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, vị trí trên cơ thể bị hại bị tác động, nhân thân của bị cáo cũng như hậu quả xảy ra thì hành vi của Nguyễn Văn P đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) ....

n) Có tính chất côn đồ”.

Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Chỉ vì mâu thuẫn trong việc vay tiền mà bị cáo đã dùng dao đâm nhiều nhát nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại đã từng là vợ của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung góp phần phục vụ việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương và làm gương cho người khác.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tác động đến gia đình để bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt phù hợp đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4]. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 120.000.000 đồng, bị hại xác nhận đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên cần xác nhận bị cáo đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự.

Đối với số tiền 120.000.000 đồng mà anh T1 thay mặt bị cáo, bồi thường cho bị hại, nay anh T1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 chiếc dép lê gồm 1 chiếc bên chân phải và 1 chiếc chân trái; 01 chiếc mũ vải lưỡi trai; 01 chiếc balo, màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát: 24K7-8355, số khung: Y683320, số máy: HC09E-0683476. Các đồ vật, tài sản này là của chị L, không phải là vật chứng. Ngày 09/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2627 và trả lại cho chị L các đồ vật, tài sản này là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airbale, màu đỏ, đen, gắn biển kiểm soát 88H1-074.63 là phương tiện mà P điều khiển hôm xảy ra sự việc. Xác định xe này là của ông Nguyễn Văn B (bố đẻ P), do P không có xe, nên có mượn xe của ông B để lấy phương tiện đi lại, hiện nay ông B bị tai biến đang nằm viện không giao tiếp được và anh T1 đang sống cùng ông B nên cần trả lại xe này cho anh T1 (con trai ông B).

Đối với 01 quần sóoc ngắn, màu nâu, 01 áo cộc màu nâu, viền cổ đen, trắng (là của P, do P giao nộp để phục vụ cho giám định). Do các quần áo này không còn giá trị, P không đề nghị lấy lại, nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với 01 con dao bằng kim loại, loại bấm gập, dài 20cm, có chuôi bằng kim loại dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao nhọn, phần lưỡi dao chỗ rộng nhất là 2,5cm, đang ở trạng thái mở dao là hung khí P dùng đâm chị L, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với mẫu tóc thu của chị Vũ Thị L, mẫu tóc thu của Nguyễn Văn P (trả lại sau giám định) cần tịch thu tiêu huỷ.

[7]. Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, giam ngày 27/7/2024.

- Vấn đề dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo đó bị cáo Nguyễn Văn P phải bồi thường cho bị hại chị Vũ Thị L 120.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thường đủ 120.000.000 đồng.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tóc trả lại sau giám định của chị Vũ Thị L, của Nguyễn Văn P; 01 quần sóoc ngắn, màu nâu, 01 áo cộc màu nâu, viền cổ đen, trắng của Nguyễn Văn P sau giám định; 01 con dao bằng kim loại, loại bấm gập, dài 20cm, có chuôi bằng kim loại dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao nhọn, phần lưỡi dao chỗ rộng nhất là 2,5cm.

Trả lại anh Nguyễn Ngọc T1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airbale, màu đỏ, đen, gắn biển kiểm soát 88H1-074.63.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V).

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - CQCSĐT - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Văn Nghĩa

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về giết người (criminal case)

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P phạm tội giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger