Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2025/HS-ST

Ngày: 07 – 3 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thương và ông Hồ Văn Sơn

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Sang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1993 tại Bình Thuận;

Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn:8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1971; Con bà Trần Thị P, sinh năm 1973; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;có vợ là Bùi Thị L, sinh năm: 1991 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2015.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại Quyết định số 62/2024/QĐ-TA ngày 11/9/2024, Huỳnh Ngọc T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Huỳnh Ngọc T chưa chấp hành Quyết định này.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/11/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Ông Nguyễn Tuấn E, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nơi tạm trú: Tổ 8, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Ông Đặng T2, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Số nhà B, đường Đ, tổ G, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
  • + Bà Trương Thị Thanh T3, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Số nhà C, đường A, tổ D, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Bà Lê Thị Thu V, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
  • + Bà Trần Thị Quỳnh C, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Tổ F, khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.Nơi tạm trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Vương Xuân H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Số nhà A, đường số B, thôn I, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số nhà B, tổ D, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Linh T4, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Tổ E, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Ông Trần Thành T5, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số nhà A, đường Đ, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Bà Lê Thị Thúy H1, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Số nhà A, đường ĐT766, tổ D, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt
  • + Ông Đỗ Huy H2, sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Số C, đường C - B, tổ F, thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Ngọc T là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và nghiện ma túy. Trong tháng 10 năm 2024 nhằm mục đích kiếm tiền tiêu xài cá nhân, Huỳnh Ngọc T đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 09/10/2024, Huỳnh Ngọc T đi đến nhà bà Lê Thị Thu V sinh năm 1974 trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận để xin nước uống. Sau đó Huỳnh Ngọc T phát hiện 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh da trời của bà Lê Thị Thu V để trên bàn tại khu vực nhà bếp. Huỳnh Ngọc T đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại của bà V rồi mang về nhà. Sau đó, Huỳnh Ngọc T mang điện thoại đã trộm của bà V bán cho Vương Xuân H sinh năm 1992, trú tại thôn I, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận với giá 1.200.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 18/10/2024, Huỳnh Ngọc T lén lút đi vào nhà bà Trần Thị Quỳnh C sinh năm 1987 trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Tại đây, Huỳnh Ngọc T phát hiện 01 chiếc xe đạp điện hiệu DK màu đen đỏ không ai trông nom nên đã lén lút lấy trộm chiếc xe đạp điện và chạy đến nhà nghỉ H3, địa chỉ tại khu phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận thuê phòng ở lại. Sau đó, Huỳnh Ngọc T liên hệ Đỗ Huy H2 sinh năm 1996 trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận để bán chiếc xe đạp điện đã trộm của bà C với giá 2.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 23/10/2024, Huỳnh Ngọc T đi bộ lang thang tại khu vực đường ĐT766, khi đến trước nhà ông Đặng T2 sinh năm 1961 tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Huỳnh Ngọc T lén lút đi vào trong nhà ông T2 để tìm tài sản trộm cắp. Huỳnh Ngọc T phát hiện 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh rêu của ông Đặng T2 để trên bàn, Huỳnh Ngọc T lén lút lấy chiếc điện thoại và bỏ chạy. Ông Đặng T2 phát hiện truy hô và rượt đuổi nhưng không bắt được Huỳnh Ngọc T. Sau đó, Huỳnh Ngọc T mang điện thoại về nhà. Đến chiều ngày 24/10/2024, Huỳnh Ngọc T mang điện thoại đã trộm của ông Đặng T2 đến bán cho ông Trần Thành T5 sinh năm 1988 trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (Chủ tiệm Đ) với giá 700.000 đồng.

Vụ thứ tư: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24/10/2024, Huỳnh Ngọc T đi bộ từ nơi thuê trọ là nhà nghỉ K thuộc khu phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận về hướng xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Khi Huỳnh Ngọc T đi ngang qua lò bánh mì Tuấn E của ông Nguyễn Tuấn E, sinh năm 1977, trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận thì thấy bên trong khuôn viên sân nhà có một chiếc xe đạp điện hiệu Osakar, màu đen đỏ dựng trong sân nhưng không có người trông coi. Lúc này, Huỳnh Ngọc T đi bộ đến gần hàng rào phía trước lò bánh mì, dùng tay đẩy cánh cửa cổng hàng rào ra rồi lén lút đi vào vị trí chiếc xe đạp điện. Thấy trên xe đạp điện không có chìa khóa nên T lục tìm chìa khóa nhưng không tìm thấy. Sau đó, Huỳnh Ngọc T đẩy chiếc xe đạp điện ra ngoài rồi ngồi lên xe và đạp xe quay lại nhà nghỉ K để ngủ. Đến khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 24/10/2024, Huỳnh Ngọc T trả phòng nghỉ nhưng không có tiền thanh toán tiền phòng. Huỳnh Ngọc T đề nghị được để lại chiếc xe đạp điện hiệu Osakar, màu đen đỏ cho bà Lê Thị Thúy H1 là chủ nhà trọ Khánh V1 làm tin để T về nhà lấy tiền thì bà H1 đồng ý. Sau đó, Huỳnh Ngọc T đi về nhà.

Vụ thứ năm: Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 24/10/2024, Huỳnh Ngọc T lén lút vào nhà bà Trương Thị Thanh T3 sinh năm 1987 trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận để tìm tài sản trộm cắp. Tại đây, Huỳnh Ngọc T lấy trộm 01 máy tính xách tay màu đen, hiệu Dell trên bàn học rồi đi bộ ra ngoài. Sau đó, Huỳnh Ngọc T gọi điện thoại cho Đỗ Thị Y, sinh năm 1989 trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nhờ Đỗ Thị Y bán dùm thì Đỗ Thị Y đồng ý. Huỳnh Ngọc T mang máy tính đến nhà giao cho Đỗ Thị Y. Sau đó, Đỗ Thị Y gọi điện thoại cho Nguyễn Linh T4, sinh năm 1993, trú tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận để bán máy tính trên. Nguyễn Linh T4 đồng ý và đến nhà Đỗ Thị Y xem máy tính và đồng ý mua với giá 700.000 đồng. Đỗ Thị Y giao lại 700.000 đồng cho Huỳnh Ngọc T.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh da trời; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh rêu; 01 chiếc xe đạp điện hiệu OSAKAR màu đỏ đen; 01 máy tính laptop màu đen, hiệu DELL;
  • Đối với 01 chiếc xe đạp điện hiệu DK màu đen đỏ, phần cổ xe bị gãy và được băng keo gắn lại hiện chưa thu hồi được.

Tại kết luận định giá tài sản số 104 ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh da trời tại thời điểm định giá ngày 09/10/2024 trị giá 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh rêu tại thời điểm định giá ngày 23/10/2024 trị giá 2.000.000 đồng; 01 chiếc xe đạp điện hiệu OSAKAR màu đỏ đen tại thời điểm định giá ngày 24/10/2024 trị giá 5.667.000 đồng; 01 máy tính laptop màu đen, hiệu DELL tại thời điểm định giá ngày 24/10/2024 trị giá 4.500.000 đồng.

Tổng cộng: 14.167.000 đồng

Tại kết luận định giá tài sản số 08 ngày 22/01/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • 01 chiếc xe đạp điện hiệu DK màu đen đỏ, phần cổ xe bị gãy và được băng keo gắn lại, mua khoảng năm 2016, 2017 tại thời điểm định giá ngày 18/10/2024 trị giá 1.600.000 đồng.

Về phần dân sự

Gia đình Huỳnh Ngọc T đã tự nguyện thực hiện bồi thường cho các bị hại cụ thể: Bồi thường cho ông Nguyễn Tuấn E số tiền 2.000.000 đồng; bà Trương Thị Thanh T3 số tiền 2.000.000 đồng; ông Đặng Tỷ S tiền 400.000 đồng, bà Trần Thị Quỳnh C số tiền 1.600.000 đồng. Các bị hại Nguyễn Tuấn E, Trương Thị Thanh T3, Lê Thị Thu V, Đặng T2 đã nhận lại tài sản, tất các bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Gia đình bị cáo Huỳnh Ngọc T đã trả lại cho ông Trần Thành T5 số tiền 700.000 đồng; trả cho bà Lê Thị Thúy H1 số tiền 2.000.000. Ông Vương Xuân H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.200.000 đồng, ông Nguyễn Linh T4 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 700.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 14/CT-VKSĐL-HS ngày 11/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Huỳnh Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến và nhất trí với kết luận định giá tài sản.

Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Về dân sự: Các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường về phần dân sự nên không cần xem xét.
  • + Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.600.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại Nguyễn Tuấn E, Trương Thị Thanh T3, Trần Thị Quỳnh C, và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Linh T4, Vương Xuân H, Lê Thị Thúy H1, Trần Thành T5 tất cả đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vắng mặt bị hại Lê Thị Thu V, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Y, Đỗ Huy H2 không có lý do, tuy nhiên thể hiện trong hồ sơ vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu thập lời khai đầy đủ rõ ràng. Do đó sự vắng mặt của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.

[3] Về hành vi của bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc; biên bản xác định hiện trường; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 09/10/2024, tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, Huỳnh Ngọc T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung A04 của bà Lê Thị Thu V trị giá 2.000.000 đồng; Vào ngày 18/10/2024, tại thôn D, xã Đ, Huỳnh Ngọc T trộm cắp 01 xe đạp điện hiệu DK của bà Trần Thị Quỳnh C trị giá 1.600.000 đồng; vào ngày 23/10/2024, tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, Huỳnh Ngọc T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại Samsung A04 màu xanh rêu của ông Đặng T2 trị giá 2.000.000 đồng; Ngày 24/10/2024, tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, Huỳnh Ngọc T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe đạp điện hiệu OSAKAR màu đỏ đen của ông Nguyễn Tuấn E trị giá 5.667.000 đồng và 01 máy tính xách tay hiệu DELL màu đen của bà Trương Thị Thanh T3 trị giá 4.500.000 đồng.

Huỳnh Ngọc T thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản, trong đó có 4 lần đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 15.767.000 đồng.

[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”,với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 5 lần thực hiện trộm cắp tài sản, trong đó có 4 lần đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong qua trình điều tra bị cáo đã tác động người nhà bồi thường cho các bị hại Nguyễn Tuấn E, Đặng T2, Trương Thị Thanh T3, hoàn trả tiền cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu, nhận thấy bị cáo có sự tự nguyện bồi thường, khắc phục hẫu quả do hành vi trộm cắp của mình gây ra. Các bị hại Nguyễn Tuấn E, Trần Thị Quỳnh C, Đặng T2, Trương Thị Thanh T3, người có quyền lợi nghãi vụ liên quan Lê Thị Thúy H1, Trần Thành T5 đều có đơn xin bãi nãi cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về nhân thân: Tại Quyết định số 62/2024/QĐ-TA ngày 11/9/2024, Huỳnh Ngọc T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Huỳnh Ngọc T chưa chấp hành Quyết định này. Xét thấy, bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, không tu chí để nuôi dưỡng bản thân trở thành một người có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo có nhân thân xấu.

[2.3] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân củabị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.

[3] Về các biện pháp tư pháp:

[3.1] Về xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh da trời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Lê Thị Thu V.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 màu xanh rêu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Đặng Tỷ.
  • 01 chiếc xe đạp điện hiệu OSAKAR màu đỏ đen, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Tuấn E.
  • 01 máy tính laptop màu đen, hiệu DELL, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Trương Thị Thanh T3.

Xét thấy, việc trả lại vật chứng đã thu giữ cho các bị hại của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ là phù hợp, đúng quy định theo điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

[3.2] Về xử lý số tiền thu lợi bất chính:

Bị cáo Huỳnh Ngọc T sau khi trộm cắp tài sản đã bán tài sản mình trộm cắp được và thu về số tiền 4.600.000 đồng. Đây là khoản tiền thu lợi bất chính từ hành vi trộm cắp tài sản mà có, do đó cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà Nước theo quy định tại điểm b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

- Các bị hại Nguyễn Tuấn E, Trương Thị Thanh T3, Đặng T2, Lê Thị Thu V đã nhận lại tài sản bị mất, bị hại Trần Thị Quỳnh C đã nhận số tiền bồi thường tương đương với giá trị tài sản bị mất, tất cả bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về phần dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thúy H1, ông Lê Thành T6 đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo và không có yêu cầu gì thêm. Ông Vương Xuân H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.200.000 đồng, ông Nguyễn Linh T4 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 700.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

- Số tiền ông Huỳnh Ngọc T1 (cha của bị cáo Huỳnh Ngọc T) bồi thường cho ông Nguyễn Tuấn E, ông Đặng T2, bà Trương Thị Thanh T3, bà Trần Thị Quỳnh C, trả lại cho ông Nguyễn Thành T7, trả cho bà Lê Thị Thúy H1 là do bị cáo có tác động nên gia đình đã tự nguyện bồi thường cho những người nêu trên. Tại phiên tòa, ông Huỳnh Ngọc T1 không yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Đối với Vương Xuân H, Đỗ Thị Y, Nguyễn Linh T4, Trần Thành T5 là những người mua tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Tuy nhiên, Vương Xuân H, Đỗ Thị Y, Nguyễn Linh T4, Trần Thành T5 không biết tài sản mà Huỳnh Ngọc T bán cho mình là tài sản do phạm tội mà có, do đó không có sơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vương Xuân H, Đỗ Thị Y, Nguyễn Linh T4, Trần Thành T5 là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

[6] Đối với Đỗ Huy H2: Đỗ Huy H2 là người mua lại tài sản do Huỳnh Ngọc T phạm tội mà có. Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã nhiều lần triệu tập Đỗ Huy H2 để làm việc và tiến hành xác minh tại nơi cư trú của H2 nhưng không lấy được lời khai của H2. Do đó giao cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh B tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[7] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/11/2024.

  2. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    - Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc T phải nộp lại khoản thu lợi bất chính là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:

    Bị cáo, ông Huỳnh Ngọc T1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 07/3/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cơ quan CSĐT công an huyện Đức Linh;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Đức Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu VP, HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger