Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 18/11/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Hưng
  • Các hội thẩm nhân dân:
    • ông Phạm Văn Toan
    • ông Lê Xuân Cung
  • Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hải Hà - Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 18/11/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 22/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 04/11/2025 đối với:

- Bị cáo: Trịnh Kim T, sinh năm 2000; nơi sinh: tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là: tổ dân phố C, xã Y, tỉnh Ninh Bình); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; bố đẻ: Trịnh Kim T1 (đã chết); mẹ đẻ: Lã Thị L; vợ: Lê Thị T2 và có 01 con sinh năm 2023; Đoàn thể: Đảng viên Đ hiện đang bị Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Y ra Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với Trịnh Kim T theo Quyết định số 105/QĐ-UBKTHU ngày 22/5/2025.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2025 cho đến nay, hiện tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Lữ Thị D, sinh năm 2006; nơi cư trú: bản S, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là: bản S, xã Y, tỉnh Nghệ An) “vắng mặt”.

- Người làm chứng: anh Ngô Xuân T3, anh Trần Duy H, anh Vũ Xuân K và chị Lò Thị Q “ đều vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 12/02/2025, Trịnh Kim T đến hát karaoke tại phòng 201 quán Đất Việt thuộc xóm M, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Y, tỉnh Ninh Bình) cùng gia đình. Khi đi T bỏ trong túi quần phía trước bên phải 01 gói ma túy loại ketamine được gói trong 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 1.000 đồng để sử dụng. Tại quán Karaoke Đất Việt, T gặp Ngô Xuân T3 sinh năm 2006 trú tại xóm Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Y, tỉnh Ninh Bình) đang hát tại phòng 202 ở đối diện phòng 201. Do quen biết, T3 rủ T “Anh tý vào đây uống với em cốc bia mai em đi lính rồi” thì T đồng ý nói “OK, anh đang dở việc với gia đình đây, tý anh sang” rồi T về phòng 201 hát cùng gia đình (trong quá trình hát gia đình T không ai biết T mang theo ma túy). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi hát xong thì những người trong gia đình về trước còn T vào phòng 202. Lúc này trong phòng có Ngô Xuân T3; Trần Duy H, sinh năm 2006, trú tại xóm D, X, xã K, huyện Y (nay là xã Y, tỉnh Ninh Bình); Vũ Xuân K, sinh năm 2003 trú tại xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Y, tỉnh Ninh Bình) cùng 02 nhân viên là Lò Thị Q, sinh năm 2007 trú tại bản Nà Ten, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La (nay là xã M, tỉnh Sơn La) và Lữ Thị D, sinh năm 2006 trú tại Bản X, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã Y, tỉnh Nghệ An) được nhóm của T3 thuê rót bia, bấm bài hát.

Sau khi vào phòng thì T mời bia, nói chuyện với mọi người trong phòng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/02/2025, T nảy sinh ý định sử dụng và mời mọi người trong phòng hát sử dụng ma túy. T đi đến chỗ T3 đang nhảy, nói với T3 “Có làm tý không em” ý của T là rủ T3 sử dụng ma túy, hiểu ý của T, T3 trả lời “Em đi rồi, em không chơi đâu”. T tiếp tục đến chỗ K đang ngồi hỏi K “Có tiền 10.000 đồng không cho anh mượn” K trả lời không có. Sau đó, T quay sang thấy D đang ngồi chọn bài hát trước màn hình vi tính, T lại gần hỏi D “Em có tiền không cho anh mượn”, D nói “Em không có”, T nói tiếp “Cho anh mượn tỷ nữa anh cho gấp đôi”. Nghe T nói vậy, D đứng dậy đến cầm chiếc túi xách để trên chiếc loa trước màn hình ti vi mở ra lấy tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng đưa cho T rồi tiếp tục ngồi chọn bài hát. Sau khi mượn được tiền, T lấy 02 điếu thuốc lá trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng để sẵn trên mặt bàn phòng 202, tháo lấy 02 vỏ đầu lọc, cuộn tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng thành ống rồi dùng 02 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá bọc cố định 02 đầu tờ tiền tạo thành 01 ống hút. Sau đó, T móc từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 1.000 đồng được gấp vuông, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Ketamine, T mở ra và lấy chiếc bật lửa ga vỏ nhựa màu đỏ để trong túi quần bên phải hơ dưới đáy tờ tiền 1.000 đồng để làm nóng ma túy, quá trình hơ lửa làm tờ tiền 1.000 đồng

bị cháy thủng 01 lỗ kích thước (01x0,3)cm. Sau đó T cầm tờ tiền 1.000 đồng có chứa ma túy Ketamine đến ngồi gần K, T rủ K “Chơi đi em ơi” ý T là rủ K sử dụng ma túy Ketamine thì K trả lời “Anh cứ chơi đi, nay em đau đầu”. Tuyền ngồi cạnh K dùng ống hút được cuộn trước đó chia số ma túy trên tờ tiền 1.000 đồng thành 02 đường, 01 đường to, 01 đường bé hơn, T đặt 01 đầu ống hút ở đường ma túy bé, 01 đầu đưa vào lỗ mũi bên phải rồi hít một hơi để đưa ma túy vào trong cơ thể. Sử dụng xong, T đặt tờ tiền 1.000 đồng đựng ma túy lên bàn rồi dịch sang ngồi cạnh D vẫn đang ngồi trước màn hình vi tính. T rủ D “Em có chơi không” ý T là rủ D sử dụng ma túy Ketamine thì D bảo “Có”, sau đó T cầm tờ tiền 1.000 đồng lên và nói với D “Bật đèn lên”, D nghĩ T nói bật đèn để T chia số ma túy cho mình cùng sử dụng thì D dùng chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax của mình bật đèn flash soi cho T, T tiếp tục dùng ống hút sử dụng hết 01 nửa đường ma túy Ketamine còn lại, rồi chuyển ống hút cho D, Danh cầm lấy ống hút sử dụng nốt lượng ma túy còn lại trên tờ tiền 1.000 đồng bằng cách tương tự như T. Thấy đã hết ma túy nên T vo tờ tiền 1.000 đồng bỏ xuống sàn nhà, một lúc sau T đưa ống hút được làm bằng tờ tiền 100.000 đồng đang để trên bàn cho D nói “Anh trả này”, Danh cầm, tháo 02 vỏ đầu lọc thuốc lá ra rồi cất tờ tiền 100.000 đồng đi. Đến khoảng 00 giờ ngày 13/02/2025, T3 và H xuống thanh toán tiền hát rồi ra về trước, đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13/02/2025 thì K nói “Thôi muộn rồi nghỉ thôi” rồi K đi xuống trước, T cùng D và Q đi xuống ngay sau đó. Đúng lúc này, Công an xã K (nay là Công an xã Y, tỉnh Ninh Bình) nhận được tin báo của quần chúng nhân dân đến kiểm tra hành chính tại quán karaoke Đất Việt. Quá trình làm việc T và D khai nhận với Công an xã K về việc trước đó vừa sử dụng ma túy ở phòng hát 202, Công an xã K yêu cầu những người có liên quan quay lại phòng hát 202 để kiểm tra, lập biên bản, thu giữ và niêm phong các đồ vật tài liệu có liên quan, sau đó yêu cầu những người có liên quan về trụ sở Công an xã K để làm việc.

Công an xã K đã thu giữ và niêm phong:

  • - Tại vị trí cách mép tường phía Tây 2m, cách mép tường phía Bắc 1,8m phát hiện 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, có số seri: SV2789521, bề mặt tờ tiền bị thủng 01 lỗ kích thước (01x0,3)cm.
  • - Tại vị trí giáp chân bàn để đồ bằng kính cách hàng ghế nệm mút ở hướng Đông 0,35m phát hiện 01 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá, mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, có KT(2,2x0,7)cm.

Kiểm tra trên mặt bàn để đồ bằng kính ở phía Đông phòng hát, phát hiện:

  • - 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, kích thước (9x5,5x2,2)cm, bên trong không còn thuốc lá.
  • - Chất bột màu trắng (nghi là ma túy) bám dính ở góc bàn giáp mép tường phía Đông và phía Nam trên diện kích thước (10x25)cm được cho vào 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4x4,2cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa trong suốt (Ký hiệu TG01).

Ngoài ra, còn thu giữ của Lữ Thị D 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng số seri BQ21234429; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, số seri H0CEWWOB6N70F, mặt lưng màu vàng, tại cạnh trái màn hình bị tình trạng sọc màn hình màu hồng, màn hình có nhiều chỗ bị nứt, vỡ, bên trong lắp sim điện thoại Vietttel 0394.381.xxx, Imei 352847115757542. Thu giữ của Trịnh Kim T 01 chiếc bật lửa gas, vỏ nhựa màu đỏ.

Quá trình làm việc, Công an xã K, huyện Y thu giữ và niêm phong mẫu nước tiểu của Trịnh Kim T (Ký hiệu TG02) và Lữ Thị D (Ký hiệu TG03) để trưng cầu giám định.

Ngày 14/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y ra Quyết định số 147/QĐ-ĐTHS trưng cầu giám định tìm chất ma túy trong mẫu TG01; trên bề mặt tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 190/KL-KTHS-MT ngày 19/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh N kết luận: chất bột màu trắng bám dính trong túi ni lông ký hiệu TG01 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.

Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine bám dính trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng gửi giám định. Lượng Ketamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.

Ketamine là chất ma túy thuộc Bảng danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Không tìm thấy chất ma túy trên tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng gửi giám định.

Ngày 14/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y ra Quyết định số 148/QĐ-ĐTHS trưng cầu giám định tìm chất ma túy trong các mẫu TG02 và TG03.

Tại Kết luận giám định số 186/KL-KTHS-MT ngày 19/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh N kết luận: tìm thấy Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Trịnh Kim T (Ký hiệu TG02) và của Lữ Thị D (Ký hiệu TG03) gửi giám định.

Ketamine là chất ma túy thuộc Bảng danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 06/CT-VKSYM ngày 21/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Kim T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Kim T từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/5/2025; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 1.000 đồng; trả lại cho chị Lữ Thị D 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max bên trong lắp sim điện thoại Vietttel 0394.381.xxx; tịch thu tiêu hủy 01 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 chiếc bật lửa gas vỏ nhựa màu đỏ, 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4x4,2cm và vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

Về án phí: buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi nêu trên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, tội danh và điều luật áp dụng: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Biên bản sự việc; Biên bản khám xét; Biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người chứng kiến; Kết luận giám định số 190/KL-KTHS-MT ngày 19/02/2025 và Kết luận giám định số 186/KL-KTHS-MT ngày 19/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh N, đã có đủ cơ sở khẳng định: khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/02/2025 tại quán karaoke Đất Việt thuộc xóm M, xã K, huyện

Y (nay là xã Y, tỉnh Ninh Bình), bị cáo Trịnh Kim T có hành vi cung cấp ma túy loại Ketamine, chuẩn bị ống hút, bật lửa làm công cụ mời chị Lữ Thị D cùng sử dụng trái phép để đưa ma túy vào cơ thể của bị cáo và chị Lữ Thị D.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chuẩn bị trái phép chất ma túy, chuẩn bị dụng cụ và các điều kiện khác để người khác sử dụng trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; đồng thời, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo Trịnh Kim T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

...

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo quá trình còn trong quân đội đã được Tư lệnh binh chủng Công binh - Bộ Q1 tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bà cố nội là bà Dương Thị D1 được Chủ tịch N1 truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cần xem xét áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm bị cáo phạm tội (ngày 12/02/2025) đang thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; thời điểm xét xử bị cáo thì Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 không có lợi cho người phạm tội, do đó căn cứ Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày

25/6/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự không áp dụng Luật này mà áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để quyết định mức hình phạt là có lợi cho người phạm tội.

Sau khi đối chiếu về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo và xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật bằng hình thức cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, qua điều tra xác minh và tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có việc làm ổn định, hành vi phạm tội chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính chất vụ lợi. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, bên trong lắp sim điện thoại Vietttel 0394.381.xxx và 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng, thu giữ của chị Lữ Thị D. Đây là tài sản của chị D, nên cần trả lại cho chị D.

Đối với 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 1.000 đồng là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Đây là tiền do Nhà nước phát hành, còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 chiếc bật lửa gas vỏ nhựa màu đỏ, 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4x4,2cm và vỏ bao gói niêm phong ban đầu là các vật chứng của vụ án. Do không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai nhận của một người bạn tên là P cho bị cáo vào chiều ngày 12/02/2025 tại khu vực xã T, huyện K (nay là xã L, tỉnh Ninh Bình), bị cáo không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với chị Lữ Thị D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo T, quá trình sử dụng ma túy D không có hành vi chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm, mời người khác sử dụng ma túy. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công

an tỉnh N đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với D về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn S là chủ quán karaoke Đất V, quá trình Trịnh Kim T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 202 của quán karaoke Đất Việt, anh S không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N không xem xét xử lý đối với Nguyễn Văn S là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: buộc bị cáo Trịnh Kim T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 255, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Trịnh Kim T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Kim T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 08/5/2025.

2. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 1.000 đồng.

Trả lại cho chị Lữ Thị D 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số seri H0CEWWOB6N70F, Imei 352847115757542, bên trong lắp sim điện thoại Vietttel 0394.381.xxx.

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 chiếc bật lửa gas vỏ nhựa màu đỏ, 01 túi ni lông trong suốt kích thước 4x4,2cm và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

(Chi tiết như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Ninh Bình).

3. Án phí: buộc bị cáo Trịnh Kim T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND KV2-NB;
  • - CQ THAHS Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng THADS KV2- NB;
  • - Công an xã Yên Mô;
  • - Bị cáo; NLQ;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Kim T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger