TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 18-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Hải
- Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tư và bà Lê Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐ-HPT ngày 18/02/2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn B - Sinh ngày 10/11/1996
CCCD số: [...]
Nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn S và bà Lê Thị H. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Lê Hữu Đ - Sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, Thanh Hóa.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đặng Xuân Q - Sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.
- Anh Phạm Văn T - Sinh năm: 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, thị xã N, Thanh Hóa.
- Anh Lê Văn T1 - Sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường X, thị xã N, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 24/10/2024, Phạm Văn B đi bộ dọc theo khu dân cư trong tổ dân phố với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến nhà anh Lê Hữu Đ ở cùng tổ dân phố H, phường M, thị xã N, Thanh Hóa, B thấy nhà anh Đoàn T2 điện, cổng không khóa nên đã đi vào, mở cửa phòng khách đột nhập vào bên trong nhà, phát hiện thấy anh Đ đang ngủ trên giường tại phòng ngủ kề phòng khách, phía trên đầu giường có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu Gold. B lấy trộm 02 chiếc điện thoại, sau đó tiếp tục đi xuống khu vực bếp và gian nhà phụ, B thấy cửa từ gian nhà phụ ra sân chỉ cài chốt, không khóa, trong gian nhà phụ có dựng 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA, Wave RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 36C1-17.444, trên ổ khóa có cắm sẵn chìa khóa, B lục tìm trong chiếc ví của anh Đ để lấy 01 đăng ký xe moto rồi mở cửa gian phụ, dắt xe moto ra khỏi nhà anh Đ, dắt bộ một đoạn khoảng 100m, B lên xe nổ máy, điều khiển xe về nhà.
Đến sáng ngày 25/10/2024, B đi chiếc xe moto và mang chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8, màu đen vừa trộm cắp được đến cửa hàng điện thoại Xuân Quý M của anh Đặng X ở tổ dân phố T, phường H, thị xã N. Tại đây, B nói dối anh Q là điện thoại của B không sử dụng nữa nên bán, anh Q đồng ý mua chiếc điện thoại trên với giá 1.600.000 đồng. Tiếp đó, B mang chiếc điện thoại Iphone 11 Pro, màu G đến cửa hàng điện thoại Trường Hằng của anh Phạm Văn T ở tổ dân phố L, phường T, thị xã N bán được 1.500.000 đồng, khi bán B nói dối là điện thoại của em trai để lại cho mình. Sau đó, B tiếp tục đi chiếc xe moto đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Lê Văn T1 ở tổ dân phố D, phường X, thị xã N, B nói với anh T1 chiếc xe B mua lại của chính chủ, nhờ anh T1 bán hộ và hỏi vay anh T1 8.000.000 đồng, khi nào bán được xe thì sẽ trừ nợ vào số tiền bán xe. Anh T1 đồng ý đưa cho B 8.000.000 đồng rồi B trở về nhà. Toàn bộ số tiền bán điện thoại và tiền vay ứng trước tiền bán xe trộm cắp B đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết.
Về phần anh Lê Hữu Đ, sáng ngày 25/10/2024 ngủ dậy phát hiện thấy bị mất trộm 02 chiếc điện thoại di động và chiếc xe mô tô nên đã đến Công an phường M trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận thông tin, Công an phường M đã chuyển thông tin vụ việc đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N giải quyết theo thẩm quyền.
Đến 15 giờ 30 phút ngày 25/10/2024, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Phạm Văn B đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản của bản thân.
Tại Kết luận định giá tài sản số 89/KL-HDĐGTS ngày 30/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, Wave RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 36C1-17444, số khung 31117EY053233, số máy: JA31E0101059, được đăng ký lần đầu vào ngày 18/8/2014. Tại thời điểm ngày 24/10/2024 có giá trị còn lại là: 5.500.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8, màu đen, số Imeil: 866876062493792, Số I: 866876062493784, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 24/10/2024 có giá trị còn lại là: 4.000.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu Gold, điện thoại đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 24/10/2024 có giá trị còn lại là: 7.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị can Phạm Văn B đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với anh Đặng Xuân Q và Phạm Văn T, là người mua điện thoại từ Phạm Văn B và anh Lê Văn T1, là người nhận bán hộ chiếc xe moto biển kiểm soát 36C1-17444, quá trình điều tra xác định anh Q, anh T và anh T1 không biết đây là những tài sản do B phạm tội mà có nên hành vi của những người này không phạm tội.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã thu giữ các vật chứng sau:
- Thu giữ của Phạm Văn B: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, Wave RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 36C1-17.444, số khung 31117EY053233, số máy: JA31E0101059, được đăng ký lần đầu vào ngày 18/8/2014 và 01 giấy đăng ký xe moto biển kiểm soát 36C1-17.444.
- Thu giữ của anh Đặng Xuân Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8, màu đen, số Imeil: 866876062493792, Số I: 866876062493784, đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Phạm Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu Gold, điện thoại đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trả lại điện thoại và xe mô tô trên cho chủ sở hữu tài sản là anh Lê Hữu Đ theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Hữu Đ đã nhận lại tài sản bị mất trộm; anh Đặng Xuân Q, anh Phạm Văn T và anh Lê Văn T1 đã được Phạm Văn B hoàn trả lại toàn bộ số tiền bỏ ra mua điện thoại và cho B vay ứng trước tiền bán xe trộm cắp, những người này không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSNS ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận. Bị hại có mặt tại phiên tòa và tha thiết xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 24/10/2024, tại nhà anh Lê Hữu Đ ở tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Phạm Văn B đã lợi dụng lúc anh Đ đang ngủ, lén lút trộm cắp của anh Đ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36C1-17444; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu Gold bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản B trộm cắp được là 16.500.000 (mười sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Của cải vật chất là do con người làm lụng vất vả mới có được, bị cáo lại lợi dụng lúc anh Lê Hữu Đ đang ngủ, sơ hở trong quản lý tài sản để bị cáo thực hiện trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ vào tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo B có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mà nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, xử phạt tù bị cáo nhưng cho hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, tuy nhiên, HĐXX xét thấy gia đình bị cáo là hộ nghèo, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận bồi thường. Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền bồi thường của bị cáo. Không ai có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Điều 6; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn B 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92; Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự. Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận bồi thường, không ai có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 24/10/2024, tại nhà anh Lê Hữu Đ ở tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Phạm Văn B đã lợi dụng lúc anh Đ đang ngủ, lén lút trộm cắp của anh Đ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36C1-17444; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu Gold bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản B trộm cắp được là 16.500.000 (mười sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
