Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày: 18-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thanh Thủy

Ông Hồ Vũ Trường Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/4/1985; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 20/2 Huỳnh Thị B, Ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Như trên; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quan hệ gia đình: Cha: Võ Văn T1, sinh năm: 1956, còn sống; Mẹ: Châu Ngọc H, sinh năm: 1958; còn sống; Vợ: Trần Kim S, sinh năm: 1989; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm: 2007, nhỏ sinh năm: 2024; Bị cáo là con một;

Tiền án:

  • Ngày 23/3/2003, “Cướp tài sản” bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam, theo Bản án số 474/HSST ngày 06/4/2004. Bị cáo chấp hành án đến ngày 01/01/2006 hết án tha. Ngày 01/9/2016, Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi ra Quyết định đình chỉ thu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • Ngày 16/11/2002, “Giết người và Gây rối trật tự công cộng” bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù giam về tội “Giết người” và 02 năm tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt là 12 năm tù giam, theo Bản án số 527/2006/HSST ngày 21/4/2006. Bị cáo đã thi hành phần bồi thường.
  • Ngày 23/12/2006, “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù giam. Tổng hợp 12 năm tù giam của Bản án số 527/2006/HSST ngày 21/4/2006 ngày 21/4/2006. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 25 năm tù giam, theo Bản án số 663/2009/HSST ngày 26/3/2009. Bị cáo chấp hành án đến ngày 23/01/2023 hết án tha.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

  • Ông Lê Đình T2 – sinh năm 1986 (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: 256 N, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai

  • Ông Lê Khánh C - sinh năm 1993 (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Đông Phước, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên

Nơi ở hiện tại: 84/1/62 khu B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2024, Võ Văn T nuôi con bị bệnh tại Bệnh viện N, địa chỉ C S, Phường A, Quận A đến ngày 09/9/2024 con của T đã chuyển qua Bệnh viện U để điều trị. Khoảng 12 giờ ngày 13/9/2024, T đến Bệnh viện N lấy hồ sơ bệnh án của con, sau khi lấy hồ sơ xong, T đi ngang lầu 7 khoa Ngoại Tổng hợp của Bệnh viện phát hiện ngay lối đi có 01 máy nước nóng lạnh để 05 chiếc điện thoại di động đang sạc pin, không người trông coi. Do không có tiền tiêu xài và nuôi con bệnh nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt các điện thoại di động. T đi đến gần giả vờ lấy điện thoại của mình để sạc pin và quan sát thấy không có người nên rút dây sạc của chiếc điện thoại Iphone 11 Promax và điện thoại Redmi note 12 cầm trên tay đi nhanh ra khỏi Bệnh viện N và đi về Bệnh viện U.

Đến 13 giờ cùng ngày, anh Lê Khánh C và anh Lê Đình T2 phát hiện bị mất điện thoại cắm sạc ở hành lang lầu 7 khoa Ngoại Tổng hợp nên đến báo cho anh Lê Ngọc Anh L, là bảo vệ của Bệnh viện N. Anh Linh tiến hành kiểm tra camera, nhận diện xác định được Võ Văn T là người đến Bệnh viện N vào sáng ngày 13/9/2024 để liên hệ phòng Kế hoạch lấy hồ sơ bệnh án và có số điện thoại của T.

Đến 07 giờ 30 phút ngày 14/9/2024, anh L gọi cho T yêu cầu đến Bệnh viện N trả lại điện thoại đã chiếm đoạt. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T vào trong Bệnh viện N quan sát, sau đó đi ra ngoài Cổng số 1 của Bệnh viện gọi điện cho anh L nói sẽ để điện thoại vào một điểm nào đó rồi điện thoại báo cho anh L đến lấy. Anh L không đồng ý và muốn gặp trực tiếp T để lấy 02 chiếc điện thoại, T đồng ý gặp. Sau khi gặp, T giao lại 02 chiếc điện thoại đã lấy trộm cho anh L thì bị anh L nắm áo khoác giữ lại, T cởi áo khoác ra và bỏ chạy bộ vào hẻm đến trước số A B H, Phường I, Quận A thì bị anh L và anh Trần Anh V bắt giữ T giao Công an Q, Quận A lập hồ sơ xử lý.

Tại kết luận định giá tài sản số 1954/KL-HĐĐGTS ngày 27/9/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi redmi note 12 màu xanh, trị giá 2.490.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, trị giá 10.390.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Võ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung ghi hình của camera gắn tại hành lang lầu 7 Khoa Ngoại Tổng hợp của Bệnh viện N.

Tài sản, vật chứng thu giữ:

  • 01 USB ghi hình ảnh của bị cáo T tại hành lang lầu 7 khoa Ngoại Tổng hợp của Bệnh viện N (kèm theo hồ sơ vụ án)
  • 01 áo khoác tay dài màu đen, 01 áo thun màu bạc, 01 quần tây đen - là trang phục bị cáo T mặc khi phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi redmi note 12 màu xanh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả cho anh Lê Khánh C.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả cho anh Lê Đình T2

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSQ10 ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Bị cáo Võ Văn T (có lý lịch nêu trên) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, xử phạt bị cáo: Võ Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Phạt bổ sung bị cáo Võ Văn T số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

  • Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì.
  • Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, biên bản phạm tội quả tang, dữ liệu trích suất camera, bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 12 giờ ngày 13/9/2024, tại hành lang lầu 7 Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện N, số C S, Phường A, Quận A, bị cáo Võ Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi redmi note 12 màu xanh, trị giá 2.490.000 đồng, của anh Lê Khánh C và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, trị giá 10.390.000 đồng, của anh Lê Đình T2. Tổng giá trị tài sản bị cáo T đã chiếm đoạt là 12.880.000 đồng.

Trong lần phạm tội này, bị cáo T được xác định đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Do vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở về hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo.

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Không;

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người không có thu nhập ổn định, đang nuôi con nhỏ, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.

[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về xử lý vật chứng:

  • 01 áo khoác tay dài màu đen, 01 áo thun màu bạc, 01 quần tây đen - là trang phục bị cáo T mặc khi phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB ghi hình ảnh của bị cáo T tại hành lang lầu 7 khoa Ngoại Tổng hợp của Bệnh viện N
  • Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Redmi số imei 8691530657967 do không liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại trong vụ án là anh Lê Khánh C, anh Lê Đình T2 đã nhận lại điện thoại bị mất và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí sơ thẩm:

Buộc bị cáo Võ Văn T chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Võ Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 9 năm 2024.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Võ Văn T.

  1. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017):
  • Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác tay dài màu đen, 01 áo thun màu bạc, 01 quần tây đen.
  • Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Redmi số imei 8691530657967 do không liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo.
  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB ghi hình ảnh của bị cáo T tại hành lang lầu 7 khoa Ngoại Tổng hợp của Bệnh viện N.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/01/2025 giữa Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Q, Thành phố Hồ Chí Minh).

  1. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Văn T chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)
  2. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Võ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại anh Lê Khánh C, anh Lê Đình T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - VKSND Quận 10; (3)
  • - Công an Quận 10; (2)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger