|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày 12/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tiến Dũng
Ông Hà Đình Sở
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thuỷ, Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Hạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 12/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/HS-ST ngày 02/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: ĐẶNG THỊ T; Tên gọi khác: Không;Giới tính: Nữ;
Sinh ngày 22 tháng 9 năm 1962 tại: huyện P, TP Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu T, xã H, huyện T, Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Văn hóa: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đặng Quang B; đã chết; Mẹ đẻ: Vũ Thị V; đã chết; Chồng: Doãn Tiến S; Sinh năm: 1960; Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1987; Hiện chồng và 02 con trai của bị cáo đều sinh sống tại khu T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; 02 con gái lấy chồng và sinh sống ở tỉnh Bắc Ninh.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 07/12/1994 T bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T khởi tố, điều tra về tội: Cố ý gây thương tích. Ngày 12/7/1995 CQĐT Công an huyện T đã kết luận điều tra, đề nghị truy tố đối với T về tội Cố ý gây thương tích. Tiền hành xác minh, rà soát hồ sơ, sổ sách thụ lý tại Viện KSND huyện T, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn đều không tìm thấy hồ sơ vụ án trên nên, không thể hiện được kết quả giải quyết cũng như việc thi hành án của vụ án trên. Vì vậy, đến nay không có căn cứ gì để
1
xác định nhân thân T đã từng bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 109 BLHS năm 1985.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại khu T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
2. Họ và tên: ĐINH THỊ TÌNH; Giới Tính: Nữ; sinh ngày: 10/10/1968;
Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không ;Văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đinh Văn V1 (đã chết); Mẹ đẻ: Đinh Thị T1, sinh năm: 1932; Chồng: Đinh Văn T2, sinh năm 1964; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1993; (Hiện mẹ và chồng, con đều sinh sống tại khu Đ, xã Y, T, Phú Thọ);
Tiền án: Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 10/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xử phạt 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) về tội Đánh bạc. Ngày 04/02/2025 T3 đã thi hành xong khoản tiền phạt và án phí. Đến nay chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không;
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại Khu Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Người bào chữa cho bị cáo Đinh Thị T3:
- Bà Đinh Thị H - Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ bào chữa cho bị cáo (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Trọng L, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Khu G, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
( Các bị cáo T, T3 đều có mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 13 phút ngày 14/01/2025, tổ công tác của Công an huyện T nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc: Đặng Thị T, sinh năm 1962, thường trú tại khu T, xã H, huyện T đang có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề tại nhà ở của T. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Đặng Thị T, phát hiện, chiều ngày 14/01/2025 T sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim số 0971738530 (là điện thoại của T) đăng nhập vào phần tin nhắn của tài khoản mạng xã hội Zalo của T có tên “HOÀNG BIN” để
2
bán số lô, số đề cho Đinh Thị T3 (sinh năm 1968, trú tại khu Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ) với tổng số tiền bán số lô, số đề cho T3 là 6.332.500 đồng; T nhắn tin mua bán số lô, số đề với Phạm Trọng L (sinh năm 1962, trú tại xóm G, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ) với tổng số tiền bán số lô số đề cho L là 2.364.000 đồng. Tổ công tác lập biên bản sự việc và thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệuOPPO màu vàng,bên trong lắp sim số 0971738530 của Đặng Thị T4 đưa đối tượng cùng vật chứng về Công an huyện T để điều tra, làm rõ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Thị T. Kết quả khám xét: Không thu giữ được gì có liên quan đến hành vi mua bán số lô, số đề của T.
Về hình thức đánh bạc là mua bán số lô, số đề. Đặng Thị T không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động dịch vụ ghi xổ số, lô tô Nhà nước. Tuy nhiên, do không có việc làm ổn định, có nhiều thời gian rảnh rỗi và muốn có thêm thu nhập, nên ngày 14/01/2025 khi có Đinh Thị T3 và Phạm Trọng L có nhu cầu muốn mua số lô, số đề nên T đã đồng ý bán số lô, số đề cho T3 và L. Các đối tượng thống nhất cách thức chơi như sau: Các số lô, số đề là các số tự nhiên gồm 02 số từ 00 đến 99, người chơi có thể mua các số tự chọn với số tiền tùy ý. Đối với số đề: Nếu số đã mua trùng với hai số cuối giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thường trong ngày, thì người chơi sẽ được trả thưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua số đề đó. Đối với hình thức đánh lô: người chơi mua theo điểm, tính bằng 22.500 đồng/01 điểm lô, nếu số đã mua trùng với hai số cuối của tất cả các giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày thì người mua thắng và được 80.000đồng/1 điểm lô, nếu không trùng khớp thì người chơi sẽ thua và mất đi số tiền đã mua. T sẽ khuyến mãi cho người chơi nhưng 20% trên tổng số tiền mua số đề. Sau khi ghi số lô, số đề T không chuyển bảng đề cho ai mà giữ lại và chi trả cho người tham gia đánh bạc nếu họ trúng, nếu không trúng thì T hưởng toàn bộ số tiền đã thu được.
Đặng Thị T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng, bên trong lắp sim số 0971 738 530 đăng nhập vào ứng dụng Zalo của T lưu tên là “HOÀNG BIN” để bán các số lô, số đề cho Đinh Thị T3 có nick Zalo T lưu tên là “Lu L1”; bán cho Phạm Trọng L có nick zalo T lưu tên là “G”.
Hồi 17 giờ 32 phút ngày 14/01/2025, khi T đang ở nhà thì nhận được tin nhắn từ tài khoản zalo có tên “Lu Luong” do Đinh Thị T3 gửi đến tài khoản zalo “HOANG BIN” của T. Nội dung tin nhắn là hình ảnh chụp một tờ giấy có ghi các số gồm: Lô: 33 = 40điểm; 20 = 10điểm; 75 = 10điểm; 33 = 5 điểm; các số 22,44,00,90,09, mỗi số 40 điểm. Đề: 65, 34,35,53 mỗi số 50.000đồng; 13 = 10.000đồng; cácsố 16,61,11,66 = 60.000đồng. Sau khi nhận tin nhắn, T trả lời “Tà boi” có nghĩa là T đồng ý bán số lô, số đề cho Đinh Thị T3. Sau đó T3 tiếp tục gửi tin nhắn zalo đến cho T: “70-77x50”, nghĩa là T3 mua thêm số đề 70,77 mỗi số 50.000 đồng. T đồng ý nên thả tim vào tin nhắn. Như vậy, số tiền số đề T đã bán cho T3 là: 370.000đồng. Số tiền lô T đã bán cho T3 là 265 điểmx 22.500đ/01 điểm lô = 5.962.500đồng.Tổng số tiền T đã bán số lô, số đề cho T3
3
ngày 14/01/2025 là 6.332.500đồng (Sáu triệu ba trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Đến 17 giờ 39 phút cùng ngày 14/01/2025, T nhận được tin nhắn từ tài khoản zalo có tên “Gò Đa” do Phạm Trọng L gửi đến gồm 02 hình ảnh chụp 02 mảnh giấy nội dung như sau: Ảnh 1 gồm các số: Đề 00 = 55.000đồng; 01 = 5.000đồng; 03 = 30.000đồng; 05 = 150.000đồng; 06 = 10.000đồng; 07 = 50.000đồng; 09 = 75.000đồng; 10 = 15.000đồng; 11 = 10.000đồng; 12 = 10.000đồng; 14 = 70.000đồng; 15 = 305.000đồng; 16 = 30.000đồng; 18 = 270.000đồng; 19 = 30.000đồng; 21 = 10.000đồng; 22 = 50.000đồng; 23 = 10.000đồng; 25 = 10.000đồng; 26 = 150.000đồng; 27 = 55.000đồng; 28 = 70.000đồng; 30 = 65.000đồng; 31 = 20.000đồng; 32 = 5.000đồng; 41 = 30.000đồng; 44 = 30.000đồng; 47 = 10.000đồng; 50 = 50.000đồng; 51 = 320.000đồng; 53 = 20.000đồng; 55 = 60.000đồng; 57 = 10.000đồng. Ảnh 2: Đề 51 = 1.000 đồng; Lô 75 = 5đ; 85 = 3đ; 83 = 2đ; Đề 51 = 10.000 đồng; 50 = 10.000đồng; 52 = 10.000đồng. Sau khi nhận tin nhắn của L, T thả tim vào 02 hình ảnh mà L gửi, có nghĩa là T đồng ý bán các số lô, số đề đó cho L. Như vậy, số tiền T bán số đề cho L là: 2.121.000 đồng. Số tiền T bán số lô cho L là 10 điểm lô= 225.000 đồng. Số tiền T đã bán số lô, số đề cho L ngày 14/01/2025 là 2.346.000 đồng (Hai triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
T thỏa thuận với T3 và L sẽ gặp nhau để trả bằng tiền mặt sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền B ngày 14/01/2025. Đến 18 giờ 13 phút ngày 14/01/2025, ngay sau khi T bán số lô, số đề cho T3 và L thì đã bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T phát hiện bắt giữ nên T3 và L đều chưa thanh toán tiền đã mua số lô, số đề cho T.
Quá trình điều tra, Đặng Thị T, Đinh Thị T3 và Phạm Trọng L đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm và hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các đối tượng hoàn toàn phù hợp với nhau về các dữ liệu trong tin nhắn zalo, thời gian, cách thức đánh bạc, phù hợp với Biên bản sự việc và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ. Đinh Thị T3 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình cảm ứng, bên trong lắp sim số 0354866152, Phạm Trọng L tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệuOPPO A53 màu đen, bên trong lắp sim số 0394164610 để phục vụ điều tra vụ án. Đinh Thị T3 chưa nộp lại số tiền đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 6.332.500đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSThS ngày 30/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố các bị cáo Đặng Thị T, Đinh Thị T3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 - BLHS 2015, đối với bị cáo Đinh Thị T3
4
xử phạt bị cáo T3 từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Điều 36 - BLHS 2015, đối với bị cáo Đặng Thị T
Xử phạt bị cáo Đặng Thị T từ 12 Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo T cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo T.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Đinh Thị T3 và Đặng Thị T.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
Truy thu để xung ngân sách nhà nước số tiền 6.332.500đồng (Sáu triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng) của Đinh Thị T3. Đây là khoản tiền T3 dùng để đánh bạc với T vào ngày 14/01/2025.
Tịch thu bán xung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Thị T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, đã qua sử dụng do Phạm Trọng L tự nguyện giao nộp để phục vụ điều tra vụ án, đều liên quan đến hành vi phạm tội của Đặng Thị T và Đinh Thị T3.
Tịch thu tiêu huỷ 03 sim điện thoại số: 0971.738.xxx; 0354866152 và 0394164610 do không có giá trị sử dụng.
Đối với số tiền 2.364.000 đồng Phạm Trọng Long dùng để mua số lô, số đề của T vào ngày 14/01/2025. Đây là khoản tiền L sử dụng vào mục đích bất hợp pháp cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, tuy nhiên Cơ quan điều tra - Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tịch thu khoản tiền trên để nộp ngân sách nhà nước theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3165/QĐ-XPHC ngày 29/4/2025 nên không đề cập giải quyết.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Đinh Thị T3.
Về tội danh: Nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn.
Về hình phạt: Bị cáo Đinh Thị T3 là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo T3 có chồng được chủ tịch nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang, anh trai ruột của bị cáo là Liệt sỹ được tổ quốc ghi công, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết
5
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1; Khoản 2 Điều 51- BLHS. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răn đe bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân, sống có ích cho gia đình xã hội
Các bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của Kiểm Sát viên.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai các bị cáo tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa, đủ cơ sở Hội đồng xét xử kết luận: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 32 phút đến 18 giờ 13 phút ngày 14/01/2025, tại nhà ở của Đặng Thị T ở khu T, xã H, huyện T, Đặng Thị T và Đinh Thị T3 đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền thông qua hình thức mua bán số lô, số đề qua tài khoản mạng xã hội zalo nhằm mục đích thu lời bất chính với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của Đặng Thị T là 8.678.500 đồng (Tám triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm đồng); tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của Đinh Thị T3 là 6.332.500 đồng (Sáu triệu ba trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng) và đã bị Công an huyện T phát hiện, kiểm tra và bắt giữ. Hành vi đó của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo Điều 321- BLHS. Khoản 1 Điều 321 - BLHS qui định:“ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn luận tội, các bị cáo không có lời bào chữa nào khác, thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Như vậy, Cáo trạng số 25/CT-VKS-Ths, ngày 30/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321- BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự
6
trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến khu dân cư. Các bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo cố ý thực hiện. Do đó hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Xét vai trò của các bị cáo: Xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã chứng minh:
Bị cáo Đặng Thị T là chủ, bán số lô số đề cho Đinh Thị T3. Còn Đinh Thị T3 là đối tượng mua số lô, số đề của T. Nên hai bị cáo đều có vai trò là đồng phạm, là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi Đánh bạc cùng nhau nên có vai trò như nhau.
[5]. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng. Trong vụ án này, bị cáo Đặng Thị T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đối với bị cáo Đinh Thị T3 phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52- BLHS.
Đối với bị cáo Đinh Thị T5 tuy không có tiền án, tiền sự nhưng ngày 07/12/1994 T5 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T khởi tố, điều tra về tội: Cố ý gây thương tích. Ngày 12/7/1995 CQĐT Công an huyện T đã kết luận điều tra, đề nghị truy tố đối với T5 về tội Cố ý gây thương tích. Tiền hành xác minh, rà soát hồ sơ, sổ sách thụ lý tại Viện KSND huyện T, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn đều không tìm thấy hồ sơ vụ án trên nên, không thể hiện được kết quả giải quyết cũng như việc thi hành án của vụ án trên. Vì vậy, đến nay không có căn cứ gì để xác định nhân thân T5 đã từng bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 109 BLHS năm 1985. Như vậy tính đến lần phạm tội này bị cáo được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo cũng không bị tòa án nào đưa ra xét xử, cho nên lần phạm tội này của bị cáo được coi như phạm tội lần đầu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo có em ruột là Đặng Quang T6 là liệt sỹ được tổ quốc ghi công, được Hội động nhà nước thưởng Huân chương chiến công hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51- BLHS
Đối với bị cáo Đinh Thị T3 năm 2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” bị cáo chưa được xóa án tích. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có chồng được chủ tịch nước tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang, anh trai ruột của bị cáo là liệt sỹ được tổ quốc ghi công, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51-BLHS.
7
[6]. Về hình phạt: Xét thấy tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên chỉ cần phạt các bị cáo một hình phạt nhất định, tương xứng với vai trò và hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
Đối với bị cáo Đặng Thị T, tuy không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là người cao tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS . Vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo cải tạo tại địa phương với mức phạt, trên mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội vừa thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo Đặng Thị T bị phạt cải tạo không giam giữ còn phải khấu trừ một khoản thu nhập từ 5% đến 20% để sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Bị cáo là người cao tuổi. Do vậy HĐXX xét thấy cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp. Trong thời gian cải tạo tại địa phương, bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự.
Đối với bị cáo Đinh Thị T3, năm 2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt số tiền 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”, bị cáo chấp hành xong ngày 04/02/2025, nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về đánh bạc, điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo với hình phạt thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, nên HĐXX xét thấy chỉ cần phạt bị cáo mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh, các bị cáo đều không có tài sản riêng, làm lao động tự do thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.
[8]. Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 6.332.500đ (Sáu triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng) T3 dùng để đánh bạc vào ngày 14/01//2025, bị cáo chưa nộp lại, cần truy thu số tiền trên của Đinh Thị T3 để nộp xung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 2.364.000 đồng Phạm Trọng Long dùng để mua số lô, số đề của T vào ngày 14/01/2025. Đây là khoản tiền L sử dụng vào mục đích bất hợp pháp, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, tuy nhiên Cơ quan điều tra –
8
Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tịch thu khoản tiền trên để nộp ngân sách nhà nước theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3165/QĐ-XPHC ngày 29/4/2025 nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Thị T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, đã qua sử dụng do Phạm Trọng L tự nguyện giao nộp để phục vụ điều tra vụ án. Đây đều là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của Đặng Thị T và Đinh Thị T3 nên cần tịch thu bán xung ngân sách nhà nước .
Đối với 01 sim điện thoại số: 0971.738.xxx thu giữ của Đặng Thị T; 01 sim điện thoại số 0354.866.xxx thu giữ của Đinh Thị T3; 01 sim điện thoại số 0394.164.xxx do phạm trọng L tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra, đều liên quan đến hành vi phạm tội của Đặng Thị T và Đinh Thị T3 không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9]. Các nội dung khác.
Các Lệnh cấm khỏi nơi cư trú số 19 và số 20 ngày 18/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn áp dụng đối với các bị cáo đã hết hiệu lực nên HĐXX không xem xét.
Đối với Phạm Trọng L: Ngày 14/01/2025, L đã mua số lô, số đề của T với tổng số tiền là 2.346.000đ (Hai triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), L đã tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra số tiền đã sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình điều tra, xác minh, xác định L chưa bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc và chưa bị kết án về các tội phạm này. Số tiền L sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Vì vậy, Công an tỉnh P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Trọng L về hành vi Đánh bạc theo quy định tại khoản 1, điều 28 nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình, đồng thời tịch thu xung ngân sách nhà nước đối với số tiền 2.346.000 đồng là tiền L sử dụng vào mục đích đánh bạc là phù hợp.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị T, Đinh Thị T3 phạm tội “Đánh bạc”.
9
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 - Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Đinh Thị T3
Xử phạt bị cáo Đinh Thị T3 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 36 - Bộ luật Hình sự 2015 đối với Đặng Thị T.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo T cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T.
Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ qui định tại Điều 99- Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 2 điều 100- Luật Thi hành án Hình sự.
* Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo Đinh Thị T3, Đặng Thị T
2. Vật chứng:
Căn cứ: Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Truy thu của Đinh Thị T3 số tiền 6.332.500đồng (Sáu triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng) là khoản tiền T3 dùng đánh bạc vào ngày 14/01/2025 để xung ngân sách nhà nước.
Tịch thu bán xung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Thị T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, đã qua sử dụng do Phạm Trọng L tự nguyện giao nộp.
Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số: 0971.738.xxx thu giữ của Đặng Thị T; 01 sim điện thoại số 0354.866.xxx thu giữ của Đinh Thị T3; 01 sim điện thoại số 0394.164.xxx do phạm trọng L tự nguyện giao nộp.
Vật chứng là đồ vật hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2025.
3. Án phí:
10
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đặng Thị T, Đinh Thị T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7º, 7b và Điều 9 uật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đào Thị Anh Nhinh |
11
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
