TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 11-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Cẩn.
Thẩm phán: Ông Lê Vũ Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Tuấn Anh.
2. Ông Võ Văn Chinh.
3. Ông Châu Khắc Thái.
- Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Lê Thị Tuyết -Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:
Ông Trần Xuân Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, số A T, phường P, quận T, thành phố H đã xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 156/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị Đ, sinh ngày 08/8/1990 tại Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; nơi cư trú Thôn G, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố G, phường P, thị xã P, thành phố H); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Phan Xuân Q, sinh năm 1968 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1970; gia đình có 06 chị em ruột, bị cáo là con đầu; có chồng là Nguyễn Duy C, sinh năm 1990; có 3 con: Lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 07/3/2024, sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (nay là Công an thành phố H) cho đến nay, bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tôn Thất Nhận T- Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A đường B M, phường H, quận P, thành phố H, có mặt.
- Bị hại:
2
+ Chị Nguyễn Thị Bảo K, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố A, phường P, thị xã P, thành phố H), có mặt.
+ Chị Phan Minh T1, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số A T, phường T, quận P, thành phố H, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố G, phường P, thị xã P, thành phố H), có mặt.
+ Anh Trần Duy C1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố G, phường P, thị xã P, thành phố H), có mặt.
+ Chị Phan Thị N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố M phường P, thị xã P, thành phố H), có mặt.
+ Chị Phan Thị T2, sinh năm 2002; nơi cư trú: D T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Hồng N1, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là tổ dân phố G phường P, thị xã P, thành phố H), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền sử dụng cá nhân và trả nợ, từ tháng 09 năm 2023 đến tháng 02 năm 2024, Phan Thị Đ dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin về việc đổi tiền mới để những bị hại tin tưởng, đưa tiền cho Đ rồi chiếm đoạt, cụ thể:
- Hành vi chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị Bảo K:
Phan Thị Đ và chị Nguyễn Thị Bảo K, sinh năm 1999, trú tại: xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, thị xã P, thành phố H) có mối quan hệ quen biết nhau khi làm nghề trang trí, cung cấp hoa tươi tại thị xã P. Đến khoảng đầu tháng 09/2023, do cần tiền trả nợ và sử dụng cá nhân Phan Thị Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị K. Đ nói với chị K bản thân có mối quen biết với chị Trần Thị Hồng N1 là nhân viên kế toán của một ngân hàng ở thành phố Đà Nẵng, có thể đổi tiền mới mà không tốn phí, thời gian đổi tiền mới từ 03 ngày đến 07 ngày sẽ có. Nếu có khách liên hệ Đào đổi lại tiền mới để cúng, để là xì... Đào sẽ cho đổi và lấy phí gửi cho chị K, chị Khánh T3 thật, đồng ý và đã nhiều lần chuyển tiền cho Đ. Quá trình điều tra xác định chị Trần Thị Hồng N1 là người làm nghề buôn bán, kinh doanh cầm đồ tại xã Đ, huyện P (nay là xã P, thị xã P); tháng 8/2023, Đ đến tiệm cầm đồ chị N1 cầm cố 01 điện
3
thoại rồi làm quen với chị N1. Vào ngày 10/9/2023, sau khi biết chị K đã tin tưởng những thông tin gian dối mà mình đưa ra, Đ nhắn tin cho chị N1 qua facebook hỏi chị N1 số tài khoản ngân hàng để nhờ bạn chuyển tiền và nói vì ứng dụng chuyển tiền nằm ở điện thoại đã đem cầm, chị N1 không nghi ngờ gì nên đã nhắn số tài khoản 4001205177156, ngân hàng A1, tên Trần Thị Hồng N1 cho Đ. Đến tối ngày 10/9/2023, theo yêu cầu của Đ thì chị K chuyển số tiền 15.000.000 đồng vào tài khoản 4001205177156, ngân hàng Al mang tên Trần Thị Hồng N1 với nội dung “tiền đổi tiền mới”, sau đó Đ liên lạc với chị N1 hỏi biết đã nhận được tiền thì trả chị N1 2.000.000 đồng tiền cầm điện thoại và số tiền còn lại Đ sử dụng để trả nợ. Sau đó, để duy trì việc xoay tiền trả nợ và sử dụng chi tiêu cá nhân không để chị K phát hiện, khi nhận tiền của chị K, Đ nói với chị K là có khách hàng cần tiền mới trước nên để Đ đưa cho họ đổi tiền trước. Có một khoản tiền phí lợi nhuận và Đ đưa cho chị K, còn tiền gốc Đào sẽ tiếp tục gửi ở ngân hàng, tin tưởng và không nghi ngờ gì nên chị K nhiều lần chuyển tiền theo yêu cầu của Đ vào tài khoản của chị N1 nói trên và số tài khoản 0938251054 tại Ngân hàng M mang tên Phan Thị Đ. Từ tháng 09/2023 đến tháng 01/2024, chị K chuyển tiền theo yêu cầu cho Đ qua 02 tài khoản trên tổng cộng 68 lần (17 lần dưới 2.000.000 đồng; 51 lần trên 2.000.000 đồng), lần ít nhất là 500.000 đồng và nhiều nhất là 205.000.000 đồng; Đ cũng sử dụng tài khoản 0938251054 tại Ngân hàng M mang tên Phan Thị Đào C2 lại một phần số tiền gốc và phí để chị K tin tưởng. Tính đến ngày 31/01/2024, Đ đã chiếm đoạt của chị K tổng số tiền là 970.000.000 đồng, Đ dùng trả nợ và sử dụng cá nhân hết, không có khả năng trả lại.
- Hành vi chiếm đoạt tiền của chị Phan Minh T1:
Vào tháng 09/2023, Phan Thị Đ lên mạng xã hội facebook tìm người đổi tiền mới, Đ đã liên hệ nhắn tin qua ứng dụng Messenger với tài khoản “Minh Trinh” của chị Phan Minh T1 (Sinh năm: 1998, trú tại: 1 T, phường T, thành phố H) và nói muốn đổi tiền mới các loại tiền mệnh giá 1.000 đồng, 2.000 đồng, 5.000 đồng 20.000 đồng, 50.000 đồng và 100.000 đồng. Giữa chị T1 và Đ thỏa thuận phí đổi tiền Đ phải chịu theo từng mệnh giá tiền khác nhau: loại 1.000 và 2000 đồng là 50.000 đồng/01 triệu; loại 20.000 đồng là 80.000 đồng/01 triệu; loại 50.000 đồng là 60.000 đồng/01 triệu và 100.000 đồng là 30.000 đồng/01 triệu. Sau khi trao đổi việc đổi tiền, trả phí và thống nhất thì Đ sẽ chuyển khoản tiền cho chị T1 qua tài khoản số [...] mở tại ngân hàng M1 hoặc tài khoản 100003618,5 mở tại Ngân hàng V mang tên Phan Minh T1. Nhận được tiền thì từ một đến hai ngày chị T1 sẽ bỏ tiền mới vào thùng xốp rồi gửi xe buýt Hoàng Đ1 đưa về cho Đ. Quá trình đổi tiền nhiều lần thì Đ luôn thanh toán và chuyển tiền uy tín để tạo lòng tin với chị T1 (vẫn còn nợ 17.000.000 đồng). Vào ngày 02/02/2024, vì nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị T1 để trả nợ, Đ nhắn tin qua Faccebook cho chị T1 nói muốn đổi số tiền 174.000.000 đồng, các mệnh giá 2.000 đồng, 5.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng và 100.000 đồng và hẹn tối cùng ngày sẽ thanh toán đủ: 174.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận phí đổi tiền là 8.800.000 đồng cộng với nợ cũ 17.000.000 đồng, tổng số tiền là
4
199.800.000 đồng, Đ hẹn tối cùng ngày sẽ thanh toán hết. Chị T1 tin tưởng nên trong ngày đã chuyển đủ số tiền 174.000.000 đồng cho Đ. Sau đó không thấy Đ trả tiền nên T1 gọi điện hối thúc, do chị T1 gọi điện thúc ép và lo sợ chị T1 phát hiện hành vi lừa đảo của mình, Đ đã chuyển trả cho chị T1 số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền 149.800.000 đồng, Đ chiếm đoạt được dùng trả nợ và sử dụng cá nhân hết, không có khả năng trả lại.
- Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại chị Nguyễn Thị Bảo K yêu cầu Phan Thị Đ phải bồi thường toàn bộ số tiền 970.000.000 đồng đã chiếm đoạt, Đ chưa bồi thường; chị Phan Minh T1 yêu cầu Phan Thị Đ phải bồi thường toàn bộ số tiền 149.800.000 đồng đã chiếm đoạt, Đ chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-P2 ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế) đã truy tố bị cáo Phan Thị Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Thị Đ từ 13 (mười ba) năm đến 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giữ 07/3/2024.
* Về án trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Bảo K số tiền 970.000.000 đồng; bồi thường cho chị Phan Minh T1 số tiền 149.800.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại.
* Về án phí: Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo trình bày phần tranh luận: Người bào chữa thống nhất như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Phan Thị Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình
5
sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mình, xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 09 năm 2023 đến ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là thành phố H), Phan Thị Đ đã dùng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối về việc đổi tiền mới làm cho chị Nguyễn Thị Bảo K và chị Phan Minh T1 tin tưởng lời nói của Phan Thị Đ là thật để chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Bảo K số tiền 970.000.000 đồng; chiếm đoạt của chị Phan Minh T1 số tiền 149.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 1.119.800.000 đồng.
Với hành vi nêu trên của bị cáo Đ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Phan Thị Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thị Đ, thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài bằng sức lao động của người khác mới dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Thị Đ đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bởi vì mỗi lần phạm tội đều cấu thành một tội phạm độc lập.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
6
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại chị Nguyễn Thị Bảo K yêu cầu bị cáo Phan Thị Đ phải bồi thường cho chị số tiền 970.000.000 đồng; chị Phan Minh T1 yêu cầu bị cáo Phan Thị Đ phải bồi thường cho chị số tiền 149.800.000 đồng. Xét yêu cầu của các bị hại chị Nguyễn Thị Bảo K và chị Phan Minh T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận buộc bị cáo Phan Thị Đ phải bồi thường toàn bộ số tiền trên cho các bị hại.
[6] Về án phí:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn)
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải chịu: [36.000.000 + (3% x 319.800.000)] = 45.594.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Thị Đ 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 07/3/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự. Tuyên xử: Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Bảo K số tiền 970.000.000 đồng (Chín trăm bảy mươi triệu đồng); bồi thường cho chị Phan Minh T1 số tiền 149.800.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trong bản án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
7
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải chịu 45.594.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
Án xử sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- - VKSND thành phố Huế;
- - Sở tư pháp thành phố Huế;
- - Phòng PV06- CA thành phố Huế;
- - Cơ quan THAHS CA thành phố Huế;
- - Cục THADS thành phố Huế;
- - Trại tạm giam CA thành phố Huế;
- - Bị cáo Đào;
- - Bị hại;
- - Lưu hồ sơ vụ án;
- - Lưu Tòa HS;
- - Lưu HCTP;
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Huỳnh Trọng Cẩn |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Đ - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
