|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày: 06-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Thoa;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Nghĩa;
Ông Lê Nhật Hoàng Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Kim N (tên gọi khác: T), sinh ngày 01/4/1983 tại tỉnh Phú Yên; cư trú tại: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1940 và bà Võ Thị H (chết); chồng: Lê Đình D, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 02 con: lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 31/01/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy An xử phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (chưa chấp hành án).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T - Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.
Bị hại:
- Ông Ngô Thanh X, sinh năm 1966; cư trú tại: số C N, Phường B, thành phố T, Phú Yên; vắng mặt.
- Bà Phan Nữ Ái H1, sinh năm: 1981; cư trú tại: khu phố E, phường P, thành phố T, Phú Yên; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Phú N1, sinh năm 1979; cư trú tại: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 25/9/2012 đến ngày 06/10/2012, trên địa bàn thành phố T, Nguyễn Phú N1 và Lê Kim N đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 25/9/2012, Nguyễn Phú N1 điều khiển xe mô tô biển số 78F4-6645 chở Lê Kim N đi ngang qua nhà chị Phan Nữ Ái H1 ở khu phố E, phường P, thành phố T, thấy không có người ở nhà nên N1 dừng xe lại, N đứng ngoài cảnh giới, còn N1 đi vào nhà lấy trộm 01 màn hình máy vi tính hiệu LG. Sau đó, N ngồi chờ ở quán nước còn N1 đem màn hình máy vi tính cầm cố cho anh Nguyễn Quang M, địa chỉ: H L, Phường B, thành phố T lấy 1.000.000 đồng cùng nhau tiêu xài. Khoảng 14 giờ, ngày 06/10/2012, N1 điều khiển xe mô tô biển số 78F4- 6645 chở Nữ khi đi ngang qua nhà ông Ngô Thanh X ở 3 N, Phường B, thành phố T, thấy cửa mở và ông X nằm ngủ trong nhà, N ở ngoài cảnh giới còn N1 đi vào trong nhà ông X lấy trộm 01 tivi màn hình loại tinh thể lỏng 32 Inch hiệu TOSHIBA đem ra xe mô tô, N ngồi sau ôm tivi còn N1 điều khiển xe bỏ chạy. Lúc này, người dân phát hiện truy đuổi bắt giữ N1 và N, giao Công an xử lý. Sau đó, N bỏ trốn và bị truy nã, đến ngày 29/10/2024 thì bị bắt.
Kết luận định giá tài sản ngày 12/12/2012 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 ti vi màn hình tinh thể lỏng 32 inch, hiệu TOSHIBA trị giá 3.000.000 đồng; 01 màn hình máy vi tính, tinh thể lỏng hiệu LG trị giá 1.000.000đ; tổng giá trị tài sản là 4.000.000 đồng.
Về dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại ông Ngô Thanh X 1.000.000 đồng và chị Phan Nữ Ái H1 1.000.000 đồng. Ông X và chị H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 07/CT-VKSTH ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Lê Kim N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 05/2013/HS-ST ngày 31/01/2013 của Toà án nhân dân huyện Tuy An, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Phan Nữ Ái H1 và Ngô Thanh X không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên không xem xét. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của ông Ngô Thanh X và chị Phan Nữ Ái H1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phú N1 khai đã cùng bị cáo N trộm cắp tài sản như trên và chính ông N1 là người rủ bị cáo N trộm cắp tài sản của người khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo đã thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình, làm một công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 25/9/2012, tại khu phố E, phường P, thành phố T, Nguyễn Phú N1 cùng bị cáo Lê Kim N đã có hành vi lấy trộm 01 màn hình máy vi tính của chị Phan Nữ Ái H1, trị giá 1.000.000 đồng và khoảng 14 giờ ngày 06/10/2012, tại nhà 3 N, Phường B, thành phố T, Nguyễn Phú N1 cùng bị cáo Lê Kim N đã có hành vi lấy trộm của ông Ngô Thanh X 01 ti vi 32 inch, loại Toshiba trị giá 3.000.000 đồng; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.000.000 đồng. Bị cáo N mặc dù không trực tiếp lấy tài sản nhưng thống nhất đi cùng N1, có hành vi cảnh giới, sau khi N1 lấy được tài sản, bị cáo ngồi sau xe ôm tivi để giúp sức cho N1 thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo N là đồng phạm với N1 và có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) như Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác đồng thời gây mất trật tự, an ninh ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khoẻ nhưng không kiếm thu nhập bằng sức lao động chân chính của mình mà khi nghe N1 rủ đi trộm cắp tài sản của người khác thì đồng ý cùng tham gia. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra vụ án. Bị cáo có nhân thân xấu, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy An xử phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng đã bỏ trốn, không chấp hành án. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, xét bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Đối với người đồng phạm với bị cáo Lê Kim N là Nguyễn Phú N1 đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 34/2014/HSST ngày 25/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, đã chấp hành án xong.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chị Phan Nữ Ái H1 và ông Ngô Thanh X đã nhận lại tài sản, được gia đình bị cáo bồi thường mỗi người 1.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Bị cáo Lê Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Phạt bị cáo Lê Kim N 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 05/2013/HS-ST ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 29/10/2024).
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê Kim N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Khánh Thoa |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Kim N trộm cắp tài sản của bà Phan Nữ Ái H và ông Ngô Thanh X
