Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9-TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày: 04-11-2025

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị The

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Ngô Viết Tuân
  • + Ông Nguyễn Huỳnh Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLHS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Hữu L, sinh ngày 10/11/2002 tại tỉnh Tây Ninh (Long An cũ); Số căn cước công dân [...]; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Đỗ Văn H; Mẹ: Lê Thị T; Bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 13/6/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng, Ngày 20/5/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 tháng.

Về nhân thân: Ngày 06/11/2022 bị Trưởng Công an xã V xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 - tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

Bị hại: Anh Trần Văn Ú, sinh năm 2006. Địa chỉ: Ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  1. Anh Trần Văn P, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
  2. Chị Lê Thị T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)
  3. Anh Vũ Gia T1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khu phố A, phường K, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 26/5/2025 Trần Văn Ú, sinh năm 2006 cư trú ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Long An nay là ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh mua của Đại lý 1.040 tờ vé số kiến thiết các đài Bến Tre, Bạc Liêu, Vũng Tàu xổ ngày 27/5/2025 để hôm sau đi bán lại kiếm tiền lời. Út để tất cả các tờ vé số trong cốp, dưới yên xe mô tô biển số 62D1-244.26. Đến khoảng 17 cùng ngày Ú đi chơi với bạn để xe mô tô ở nhà.

Khoảng 18 giờ cùng ngày Đỗ Hữu L đi bộ đến nhà Trần Văn Ú, nhờ anh Trần Văn P (anh ruột của Ú) chở đi thị trấn V chơi, anh P không đồng ý nên đi vào phòng ngủ. L ngồi tại phòng khách nhà của Trần Văn Ú, đến khoảng 20 giờ thì ra về. Khi đi đến cửa thấy xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 62D1-244.26 có gắn sẵn chìa khóa, nên nảy sinh ý định lấy trộm. Luân quan sát không thấy ai nên lén lút mở khóa, đề máy chạy đi đến nhà của Huỳnh Tấn L1 (bạn của L) ở Ấp A, xã V, để rủ L1 và Đoàn Công N đi Kiến Tường chơi, nhưng L1 và N không đi. L mở cốp dưới yên xe mô tô 62D1-244.26 ra thì phát hiện một túi ny lon bên trong có nhiều từ vé số mệnh giá 10.000 đồng của các đài Bạc Liêu, Bến Tre, Vũng Tàu. L biết tất cả vé số trên chưa xổ số nên đóng cốp xe lại rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô 62D1-244.26 đi thị xã K, L bán tất cả những tờ vé số trên cho người bán vé số không rõ tên địa chỉ được số tiền 7.280.000 đồng. L vào tiệm game chơi, sau đó cầm luôn xe mô tô biển số 62D1-244.26 cho Vũ Gia T1 với số tiền 3.500.000 đồng, L tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 12/6/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của huyện V kết luận 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, màu sơn: Xanh đen, biển số 62D1-244.26 có giá trị tại thời điểm ngày 26/5/2025 là 7.500.000 đồng.

Ngày 05/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đỗ Hữu L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSKV9 ngày 06/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh truy tố bị cáo Đỗ Hữu L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Hữu L từ 15 đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 9.460.000 đồng, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã giao trả xe bị cáo trộm cắp cho bị hại nên không đề cập đến.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Kết luận định giá tài sản số 155/KL-HĐĐG, ngày 12/6/2025 của Hội đồng định giá, thống nội dung Cáo trạng, tội danh, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo phù hợp với Cáo trạng, Kết luận định giá tài sản số 155/KL-HĐĐG, ngày 12/6/2025, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 26/5/2025, tại nhà Trần Văn Ú ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh, Đỗ Hữu L lén lút lấy trộm của Trần Văn Ú 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biển số 62D1-244.26 có giá trị 7.500.000 đồng và 1.040 tờ vé số kiến thiết mệnh giá 10.000 đồng của các đài Bến Tre, Bạc Liêu, Vũng Tàu xổ ngày 27/5/2025, có giá trị 10.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà L trộm của Trần Văn Ú là 17.900.000 đồng.

[3] Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, giá trị tài sản trộm cắp với tổng số tiền là 17.900.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, Cáo trạng số 01/CT-VKSKV9 ngày 06/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền sự và đang bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cần xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo khi áp dụng hình phạt. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin bãi nại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho bị hại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biển số 62D1-244.26 là đúng quy định.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường 9.460.000 đồng trị giá của 1.040 tờ vé số, bị hại không yêu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét.

[9] Đối với người mua 1.040 tờ vé số, không xác định tên địa chỉ nên không xem xét đề cập đến. Đối với Vũ Gia T1 nhận cầm xe mô tô biển số 62D1-244.26 với số tiền 3.500.000 đồng, khi cầm xe T1 không biết xe mô tô trên do bị cáo trộm cắp mà có, không có cơ sở xác định Vũ Gia T1 có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Nên Tòa án không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đỗ Hữu L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND khu vực 9 - Tây Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị The

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Hữu Luân "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger