TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS - ST.
Ngày: 04 - 3 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Tĩnh
Bà Ma Thị Trang Nhung
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tùng Lâm – Thư ký
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Thị Hồng C; Sinh ngày 19 tháng 8 năm 1978, tại: T, Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Ngọc M, đã chết; Mẹ đẻ: Đỗ Thị L, sinh năm 1956. Hiện ở xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Chồng: Nguyễn Đức M1, sinh năm 1976. Hiện ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009 (01 con đã chết); Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
2. Họ và tên: Trần Thị Lệ T; Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1980, tại: L, Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ Nơi cư trú: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Trần Văn Đ, đã chết; Mẹ đẻ: Bùi Thị M2, sinh năm 1956. Hiện ở xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Chồng: Vũ Văn C1, sinh năm 1982. Hiện ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 17/2015/HHST ngày 29/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lâm thao xử phạt Trần Thị Lệ T 10.000.000 đồng về tội đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 12/7/2016.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
3. Họ và tên: Vũ Ái N; Sinh ngày 04 tháng 3 năm 1983, tại: L, Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Vũ Văn T1, sinh năm 1957; Mẹ đẻ: Bùi Thị D, sinh năm 1959. Bố, mẹ đều hiện ở thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Bùi Thị Đ1, sinh năm 1982. Hiện ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình
- Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại bản án số 42/2010/HSST ngày 29/12/2010, của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử phạt Vũ Ái N 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, bị cáo chấp hành xong ngày 12/10/2011.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
4. Họ và tên: Nguyễn Kim L1; Sinh ngày 16 tháng 01 năm 1978, tại: L, Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Đức T2 (Đã chết). Mẹ đẻ: Phạm Thị B, sinh năm 1955. Hiện ở khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Chồng: Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1973. Hiện ở khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2003; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình
- Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/10/2019, bị Phòng C3 Công an tỉnh P xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong ngày 21/10/2019.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Ái N: Bà Bùi Thu H - Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1974; Địa chỉ: khu P, thị trấn L, huyện L (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Lê Thị Hồng C, sinh năm 1978; Trần Thị Lệ T, sinh năm 1980; Vũ Ái N, sinh năm 1983 đều ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Kim L1, sinh năm 1978 ở khu T, thị trấn L, huyện L đã đánh bạc với nhiều người, đánh bạc với nhau thông qua hình thức mua bán số lô, số đề sát phạt bằng tiền. Cách thức đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, đề như sau:
“Số đề” 2 chữ số: người mua tự lựa chọn mua một hoặc nhiều cặp số. Mỗi cặp gồm 2 số tự nhiên bất kỳ từ 0 đến 9 (cặp số từ 00 đến 99), mức tiền mua từng cặp số.
“Đầu” (các số đề theo đầu số): gồm 10 số đề 2 chữ số, có cùng số hàng chục (số đầu), từ 0 đến 9.
“Đít” (các số đề theo đuôi số): gồm 10 số đề 2 chữ số, có cùng số hàng đơn vị (số đít), từ 0 đến 9.
“Dây” là các số đề 2 chữ số, dạng AB, BA, (A+5)(B+5), (B+5)(A+5), A(B+5), (A+5)B, (B+5)A, B(A+5); nếu các tổng A+5 và B+5 >9 thì lấy số hàng đơn vị của tổng.
“Kép bằng” là các số đề: 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99.
Số tiền mua mỗi số là tiền mua đầu, đít, dây, kép bằng chia đều cho các số đề trong đầu, đít, dây, kép bằng.
Trong ngày, cặp số đã mua trùng hai số cuối của giải Đặc biệt trong cơ cấu giải thưởng xổ số kiến thiết Miền B thì người mua trúng thưởng. Mức thưởng bằng 70 lần tiền mua số đề trúng thưởng.
- “Số lô 2 chữ số”: người mua tự lựa chọn mua cặp số gồm 2 số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99, mức mua tính theo “điểm”. Trong ngày, mỗi số lô đã mua trùng với hai số cuối của các giải thưởng trong cơ cấu giải thưởng xổ số kiến thiết miền B cùng ngày gồm: giải đặc biệt, 01 giải nhất, 02 giải nhì, 06 giải ba, 04 giải tư, 06 giải năm, 03 giải sáu, 04 giải bảy để xác định số lô trúng thưởng một lần. Nếu có nhiều giải thưởng có hai số cuối trùng với số lô của người mua thì người đó được trúng thưởng nhiều lần nhưng tối đa không quá ba lần. Mức thưởng 80.000VNĐ/1 điểm mua số lô.
- “Số lô xiên 3, sô lô xiên 4”: người chơi tự lựa chọn mua lần lượt 03, 04 cặp số gồm 2 số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99, mức mua bất kỳ. Trong ngày, mỗi số lô xiên 3, xiên 4 đã mua đều trùng với hai số cuối của các giải thưởng trong cơ cấu giải thưởng xổ số kiến thiết miền B cùng ngày gồm: giải đặc biệt, 01 giải nhất, 02 giải nhì, 06 giải ba, 04 giải tư, 06 giải năm, 03 giải sáu, 04 giải bảy thì xác định số lô xiên 3, xiên 4 trúng thưởng. Mức thưởng cụ thể lô xiên 3 được gấp 40 lần số tiền đã mua, lô xiên 4 được gấp 100 lần số tiền đã mua. Các đối tượng thực hiện hành vi mua bán số lô, đề với phương thức mua trực tiếp, hoặc nhắn tin các số lô đề cần mua, hoặc chụp ảnh số lô, số đề muốn mua rồi nhắn tin gửi qua Zalo. Với cánh thức chơi như trên, các đối tượng đã thực hiện hành vi đánh bạc thông qua hình thức mua bán số lô đề bị Cơ quan điều tra phát hiện ngày 20/11/2023 cụ thể như sau:
1. Hành vi đánh bạc của Lê Thị Hồng C và những người chơi:
- Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02/10/2024, Nguyễn Văn T4, sinh năm 1989, ở khu T, thị trấn L, huyện L đến nhà C gặp và hỏi mua các số lô, số đề của C. Châm đồng ý bán. Thời đã đọc cho C ghi các số lô, số đề mà T4 muốn mua vào quyển vở nêu trên cụ thể: các số lô 33, 88 mỗi số mua 05 điểm (mức tiền 20.000đ/01 điểm lô); các số đề 67, 89, 98 mỗi số mua 20.000đ. Sau đó, C đã viết 01 cáp lô đề đưa cho T4 giữ để đối chiếu trúng thưởng. Thời nhận cáp lô đề này và đã trả đủ số tiền 260.000đ tiền mua số lô, số đề cho C.
- Hồi 17 giờ 47 phút, ngày 02/10/2024, Vũ Ái N, sinh năm 1983, ở khu P, thị trấn L, huyện L sử dụng điện thoại Samsung J8, màu đen cài sim thuê bao 0985356476 và 01 sim rác (Nguyện không nhớ số thuê bao, sim rác dùng để đăng ký tài khoản Zalo “Ban Mai”), N sử dụng tài khoản Zalo “Ban Mai” đã gửi 01 tin nhắn hình ảnh chụp mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang ghi nhiều số bằng mực màu đen đến tài khoản Zalo: “Muong” của C để mua số lô, số đề. Cụ thể N mua số đề của C với tổng số tiền: 7.040.000 đồng, mua số lô của C với tổng số tiền 5.720.000 đồng.
Sau khi nhận tin nhắn zalo, Lê Thị Hồng C dùng chiếc bút mực màu xanh viết các số lô, số đề với mức tiền mua tương ứng của Vũ Ái N đã mua vào 01 tờ giấy trắng có dòng kẻ ngang của 01 quyển vở có bìa màu vàng chanh, có kích thước 17,9cm x 25,2cm, trên bìa có chữ GENIUS nêu trên để theo dõi. Tổng số tiền C bán số lô, số đề cho N là 12.760.000đ. Nguyện chưa thanh toán tiền mua lô đề cho C.
- Hồi 17 giờ 54 phút, ngày 02/10/2024, Trần Thị Lệ T, sinh năm 1980, ở khu P, thị trấn L, huyện L sử dụng tài khoản Zalo của mình tên: “T”, đăng ký bằng sim rác (không nhớ số thuê bao), đăng nhập trong điện thoại Samsung, màu xanh (gửi 01 tin nhắn hình ảnh chụp mảnh giấy màu trắng ghi nhiều số bằng mực màu xanh đến tài khoản Zalo: “Muong” của C để mua số lô, số đề. Cụ thể số tiền mua số đề là 962.000 đồng, mua số lô là 8.214.000 đồng.
Sau khi nhận tin nhắn zalo, C dùng chiếc bút mực màu xanh viết các số lô, số đề với mức tiền mua tương ứng của T đã mua vào 01 tờ giấy trắng có dòng kẻ ngang của 01 quyển vở có bìa màu vàng chanh nêu trên để theo dõi. Tổng số tiền C bán số lô, số đề cho T là 9.176.000đồng. T chưa thanh toán tiền mua lô đề cho C.
- Sau khi C bán cho Trần Thị Lệ T số lô, số đề đến khoảng 18 giờ 05 phút ngày 02/10/2024, C nghĩ rằng trong các số lô, số đề T đã mua trước đó sẽ trúng thưởng thì C sẽ bị thua bạc và biết Nguyễn Kim L1 bán số lô, số đề với mức tiền rẻ hơn nên C sử dụng chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO A55, màu đen, số IMEI 1: 866787057890738, số IMEI 2: 866787057890720, lắp số điện thoại 0389.834.xxx của mình đăng nhập tài khoản Zalo “Muong” gửi 01 tin nhắn hình ảnh chụp 01 tờ giấy có ghi các số lô, số đề với mức tiền 9.065.000đồng mà Trần Thị Lệ T đã mua của C với số tiền 9.065.000 đồng đến tài khoản Zalo: “H” của Nguyễn Kim L1 để mua số lô số đề. Như vậy số tiền C mua số lô, số đề với L1 là 9.065.000 đồng. Châm chưa thanh toán tiền mua lô đề cho L1.
Như vậy xác định tổng số tiền Châm mua bán số lô, số đề với Nguyễn Văn T4, Vũ Ái N, Trần Thị Lệ T, Nguyễn Kim L1 vào ngày 02/10/2024 là 31.261.000 đồng.
Sau khi thực hiện mua bán số lô, số đề với những người chơi trên, hồi 18 giờ 10 phút ngày 02/10/2024 Lê Thị Hồng C bị Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn L kiểm tra, phát hiện. Châm đã thừa nhận hành vi mua bán số lô, số đề như đã nêu trên. Cơ quan điều tra Công an huyện L khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Hồng C, thu giữ số tiền là: 37.700.000 đồng.
2, Hành vi đánh bạc của Vũ Ái N và Nguyễn Văn T3
Vũ Ái N thừa nhận ngoài việc mua số lô, số đề với Lê Thị Hồng C như trên thì trong ngày 02/10/2024, N còn bán số đề cho Nguyễn Văn T3, sinh năm 1974, ở khu P, thị trấn L, huyện L cụ thể:
Hồi 17 giờ 34 phút ngày 02/10/2024 tại khu P, thị trấn L, huyện L, T3 sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51, màu trắng, số imei 1: 353544561411331, số imei 2: 353914471411335, lắp sim thuê bao 0988568045 của mình gọi điện thoại đến số thuê bao 0985356476 của Nguyện đọc mua các số đề 37, 57, 07 mỗi số mua mức 100.000đ, N đồng ý bán cho T3. Số tiền mua 03 số đề của N bán là 300.000đ T3 chưa thanh toán cho N. Các số đề này N đều giữ lại, đánh bạc với T3, thắng thua tự chịu.
Như vậy, xác định tổng số tiền Vũ Ái N mua số lô, số đề của C và N bán số lô, số đề cho T3 vào ngày 02/10/2024 là 13.060.000 đồng.
Hành vi đánh bạc của các đối tượng bị phát hiện trước giờ xổ số kiến thiết miền B. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định số tiền dùng để đánh bạc ngày 02/10/2024 mà các bị cáo phải chịu TNHS cụ thể như sau:
Lê Thị Hồng C phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền 31.261.000 đồng dùng để đánh bạc với Nguyễn Văn T4, Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1.
Trần Thị Lệ T phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền: 9.176.000 đồng dùng để đánh bạc với Lê Thị Hồng C.
Vũ Ái N phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền: 13.060.000 đồng dùng để đánh bạc với Lê Thị Hồng C và Nguyễn Văn T3.
Nguyễn Kim L1 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền: 9.065.000 dùng để đánh bạc với Lê Thị Hồng C.
Ngoài ra, các bị cáo còn khai ngoài lần phạm tội vào ngày 02/10/2024, các ngày trước khi bị phát hiện các bị cáo còn có mua bán số lô, số đề tuy nhiên sau khi có kết quả mở thưởng thì đã thanh toán xong và đã thu hồi, xóa tin nhắn, không nhớ các số lô, số đề và số tiền đánh bạc là bao nhiêu nên không xác định được số tiền đánh bạc trước đó.
Đối với Vũ Ái N, Trần Thị Lệ T và Nguyễn Kim L1 sau khi biết Lê Thị Hồng C bị Công an huyện L phát hiện hành vi bán số lô, số đề, Vũ Ái N, Trần Thị Lệ T và Nguyễn Kim L1 đã vứt bỏ; làm rơi mất những chiếc điện thoại di động đã sử dụng để nhắn tin mua, bán các số lô, số đề với Lê Thị Hồng C. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không thu được.
Quá trình điều tra bị cáo Vũ Ái N tự nguyện giao nộp số tiền dùng để đánh bạc: 12.760.000 đồng; Bị cáo Trần Thị Lệ T tự nguyện giao nộp số tiền dùng để đánh bạc: 9.176.000 đồng.
Về vật chứng, tài sản đã thu giữ:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO A55, màu đen, số imei 1: 866787057890738, số imei 2: 866787057890720, lắp sim thuê bao 0389834322 đã qua sử dụng là điện thoại của Lê Thị Hồng C.
- - 01 (một) chiếc bút mực màu xanh có nhãn mác MATIXS, đã qua sử dụng của C.
- - 01 quyển vở có bìa màu vàng chanh, có kích thước 17,9cm x 25,2cm, trên bìa có chữ GENIUS, bên trong quyển vở có nhiều tờ giấy hai mặt màu trắng, trong đó có 02 tờ giấy các mặt ghi các chữ và số bằng mực màu xanh. Đây là bảng kê lô, đề C đã bán được cho người mua vào ngày 02/10/2024 ghi vào vở để theo dõi.
- - 01 (một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang, kích thước 06x3,8 cm, một mặt có ghi chữ và số bằng mực màu xanh, là cáp lô đề ngày 02/10/2024 Nguyễn Văn T4 giữ để đối chiếu trúng thưởng.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51, màu trắng, số imei 1: 353544561411331, số imei 2: 353914471411335, lắp sim thuê bao 0988568045, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T3 sử dụng để mua số lô, số đề của Vũ Ái N vào ngày 02/10/2024.
- - Tiền ngân hàng N1 đang lưu hành: 59.636.000 đồng (trong đó: số tiền 37.700.000 đồng thu của Lê Thị Hồng C, 9.176.000 đồng thu của Trần Thị Lệ T, 12.760.000 đồng thu của Vũ Ái N), hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Công an huyện L tại Kho bạc nhà nước huyện L
Vật chứng, tài sản đã xử lý: Không.
Về thu nhập và tài sản của các bị cáo: Qua xác minh xác định, các bị cáo Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Nguyễn Kim L1 đều có tài sản chung và riêng là nhà và đất ở tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Vũ Ái N không có tài sản gì.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi.
Tại Cáo trạng số 02/CT - VKSHH ngày 19/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã truy tố đối với Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 về tội "Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị Hồng C. Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Lệ T. Khoản 1 Điều 321; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Ái N. Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Kim L1.
*. Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 phạm tội “Đánh bạc”.
*. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng C từ 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) đến 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trần Thị Lệ T từ 12 (mươi hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ (CTKGG).
Xử phạt Vũ Ái N từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ (CTKGG).
Xử phạt Nguyễn Kim L1 từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ (CTKGG).
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với các bị cáo. Giao các bị cáo Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 cho UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
*. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng: khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lê Thị Hồng C và Vũ Ái Nguyện
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Kim L1 và Trần Thị Lệ T mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) đến 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
*. Về khấu trừ thu nhập: Miễn áp dụng khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo
Buộc các bị cáo Nguyễn Kim L1 và Trần Thị Lệ T phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo Vũ Ái N do bị cáo là người khuyết tật nặng.
*. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ Số tiền 9.176.000đồng thu của bị cáo Trần Thị Lệ T; số tiền 12.760.000 đồng thu của bị cáo Vũ Ái N.
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO A55, màu đen, số imei 1: 866787057890738, số imei 2: 866787057890720, đã qua sử dụng (là điện thoại của Lê Thị Hồng C).
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51, màu trắng, số imei 1: 353544561411331, số imei 2: 353914471411335, đã qua sử dụng (là điện thoại của Nguyễn Văn T3).
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) chiếc bút mực màu xanh có nhãn mác MATIXS, đã qua sử dụng của C; Sim số thuê bao 0389834322 (trong máy điện thoại của Lê Thị Hồng C) và S số thuê bao 0988568045 (trong máy điện thoại của Nguyễn Văn T3).
- Truy thu của bị cáo Lê Thị Hồng C số tiền 9.325.000đ (là số tiền bị cáo đánh bạc với L1 và T4)
- Trả cho bị cáo Lê Thị Hồng C số tiền 37.700.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- Đối với vật chứng là 01 quyển vở có bìa màu vàng chanh, có kích thước 17,9cm x 25,2cm, trên bìa có chữ GENIUS, bên trong quyển vở có nhiều tờ giấy hai mặt màu trắng, trong đó có 02 tờ giấy các mặt ghi các chữ và số bằng mực màu xanh. Đây là bảng kê lô, đề C đã bán được cho người mua vào ngày 02/10/2024 ghi vào vở để theo dõi và 01 (một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang, kích thước 06x3,8 cm, một mặt có ghi chữ và số bằng mực màu xanh, là cáp lô đề ngày 02/10/2024 Nguyễn Văn T4 giữ để đối chiếu trúng thưởng là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, đã được đánh số bút lục và lưu hồ sơ vụ án.
c) Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Nguyễn Kim L1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm (HSST). Miễn án phí hình hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vũ Ái N.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và trình bày tại phiên tòa như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo N phát biểu quan điểm bảo vệ: Đồng ý với bản luận tội về tội danh, hình phạt mà vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đã trình bày tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức phạt nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao; Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho các bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 20/11/2024, trên địa bàn thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 đã thực hiện hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức mua bán số lô đề với số tiền dùng để đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự cụ thể: Lê Thị Hồng C phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền 31.261.000 đồng dùng để đánh bạc với Nguyễn Văn T4, Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1. Trần Thị Lệ T phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền: 9.176.000 đồng dùng để đánh bạc với Lê Thị Hồng C. Vũ Ái N phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền: 13.060.000 đồng dùng để đánh bạc với Lê Thị Hồng C, Nguyễn Văn T3. Nguyễn Kim L1 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền: 9.065.000 dùng để đánh bạc với Lê Thị Hồng C.
Do vậy, hành vi của các bị cáo Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3]. Về tính chất, động cơ, mục đích của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì động cơ, mục đích vụ lợi, muốn kiếm tiền nhanh chóng không mất nhiều sức lao động; các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội; gây mất trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác; ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc gia đình. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng đối với từng bị cáo và phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với từng bị cáo.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về nhân thân: Bị cáo Lê Thị Hồng C có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trần Thị Lệ T và Vũ Ái N nhân thân, đã từng bị kết án về hành vi “Đánh bạc”. Tuy nhiên, bị cáo đều đã chấp hành xong, được xóa án tích. Bị cáo Nguyễn Kim L1 nhân thân, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong.
[4.2]. Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
[4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo Lê Thị Hồng C, Nguyễn Kim L1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên 2 bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Vũ Ái N bản thân là người khuyết tật nặng được trợ cấp hàng tháng, vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, các bị cáo Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 đã ra đầu thú về hành vi phạm tội; bị cáo N, L1 tự nguyện nộp số tiền liên quan đến việc đánh bạc, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Lê Thị Hồng C tuy là người bán các số lô, số đề cho T, N và đồng thời mua số lô số đề của L1, với tổng số tiền cao hơn các bị cáo khác. Nhưng bị cáo nhân thân tốt chưa từng có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu. Nên áp dụng mức phạt tiền từ 40.000.000đồng đến 45.000.000đồng như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N đã từng bị kết án về hành vi “Đánh bạc”. Tuy nhiên, bị cáo N là người khuyết tật nặng. Hai bị cáo đều có nhiều tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Kim L1 có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ, để các bị cáo ở ngoài xã hội cũng đủ để các bị cáo cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cần phân hóa mức hình phạt đối với các bị cáo cho phù hợp. Bị cáo Nguyễn Kim L1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhất và số tiền bị truy cứu trách nhiệm hình sự là ít nhất, nên cho bị cáo mức phạt nhẹ hơn bị cáo T và N. Bị cáo Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N nhân thân đều đã bị kết án về hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, bị cáo N đã từng bị xử 09 tháng cải tạo không giam giữ và số tiền đánh bạc của bị cáo lớn hơn số tiền đánh bạc của bị cáo T. Nên cần cho bị cáo mức phạt cao hơn bị cáo T là phù hợp.
[5.2 ] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng
Xét thấy, các bị cáo Trần Thị Lệ T, Nguyễn Kim L1 đều có tài sản chung, riêng với gia đình. Nên cần áp dụng xử phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước là hoàn toàn phù hợp. Bị cáo Lê Thị Hồng C đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và bị cáo Vũ Ái N không có tài sản nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
[5.3 ] Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án hình phạt cải tạo không giam giữ, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước.
Xét thấy, các bị cáo Trần Thị Lệ T, Nguyễn Kim L1 làm lao động tự do mức thu nhập không ổn định; bị cáo Vũ Ái N là người khuyết tật nặng nên miễn áp dụng khấu trừ thu nhập là phù hợp.
Buộc các bị cáo Nguyễn Kim L1 và Trần Thị Lệ T phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Bị cáo N không phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Cần Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ Số tiền 9.176.000đồng thu của bị cáo Trần Thị Lệ T; số tiền 12.760.000 đồng thu của bị cáo Vũ Ái N.
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO A55, màu đen, số imei 1: 866787057890738, số imei 2: 866787057890720, đã qua sử dụng (là điện thoại của Lê Thị Hồng C).
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51, màu trắng, số imei 1: 353544561411331, số imei 2: 353914471411335, đã qua sử dụng (là điện thoại của Nguyễn Văn T3).
- Cần tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) chiếc bút mực màu xanh có nhãn mác MATIXS, đã qua sử dụng của C; Sim số thuê bao 0389834322 (trong máy điện thoại của Lê Thị Hồng C) và S số thuê bao 0988568045 (trong máy điện thoại của Nguyễn Văn T3).
- Truy thu của bị cáo Lê Thị Hồng C số tiền 9.325.000đ (là số tiền bị cáo đánh bạc với L1 và T4)
- Trả cho bị cáo Lê Thị Hồng C số tiền 37.700.000đ không liên quan đến hành vi phạm tôi của bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ)
- Đối với vật chứng là 01 quyển vở có bìa màu vàng chanh, có kích thước 17,9cm x 25,2cm, trên bìa có chữ GENIUS, bên trong quyển vở có nhiều tờ giấy hai mặt màu trắng, trong đó có 02 tờ giấy các mặt ghi các chữ và số bằng mực màu xanh. Đây là bảng kê lô, đề C đã bán được cho người mua vào ngày 02/10/2024 ghi vào vở để theo dõi và 01 (một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang, kích thước 06x3,8 cm, một mặt có ghi chữ và số bằng mực màu xanh, là cáp lô đề ngày 02/10/2024 Nguyễn Văn T4 giữ để đối chiếu trúng thưởng đã được đánh số bút lục và lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.
[7]. Về án phí: Cần buộc các bị cáo Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Nguyễn Kim L1 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Ái N là người khuyết tật nặng, nên được miễn theo quy định của pháp luật.
[8]. Đối các vấn đề khác: Với Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T3 không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T3 đều dưới 5.000.000 đồng, do vậy, hành vi không cấu thành tội Đánh bạc, Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T3 về hành vi mua các số lô, số đề theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ – CP của Chính phủ và Nguyễn Văn T3 đã bị tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000đồng sử dụng đánh bạc với Nguyện ngày 02/10/2024 theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 190/QĐ – XPHC ngày 29/12/2024 của Công an huyện L là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật.
[9]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị Hồng C. Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Lệ T. Khoản 1 Điều 321; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Ái N. Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Kim L1. Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
*. Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng C 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Trần Thị Lệ T 12 (mươi hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Vũ Ái N 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim L1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án và bản sao đối với các bị cáo. Giao các bị cáo Trần Thị Lệ T, Vũ Ái N, Nguyễn Kim L1 cho UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
*. Về hình phạt bổ sung:
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lê Thị Hồng C và Vũ Ái Nguyện
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Kim L1 và Trần Thị Lệ T mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
*. Về khấu trừ thu nhập: Miễn áp dụng khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Buộc các bị cáo Nguyễn Kim L1 và Trần Thị Lệ T phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần theo quy định tại Điều 36 BLHS. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Bị cáo N không phải thực hiện một số Công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
*. Về vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ Số tiền 9.176.000đồng thu của bị cáo Trần Thị Lệ T; số tiền 12.760.000 đồng thu của bị cáo Vũ Ái N.
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO A55, màu đen, số imei 1: 866787057890738, số imei 2: 866787057890720, đã qua sử dụng (là điện thoại của Lê Thị Hồng C).
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51, màu trắng, số imei 1: 353544561411331, số imei 2: 353914471411335, đã qua sử dụng (là điện thoại của Nguyễn Văn T3).
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) chiếc bút mực màu xanh có nhãn mác MATIXS, đã qua sử dụng của C; Sim số thuê bao 0389834322 (trong máy điện thoại của Lê Thị Hồng C) và S số thuê bao 0988568045 (trong máy điện thoại của Nguyễn Văn T3).
- Truy thu của bị cáo Lê Thị Hồng C số tiền 9.325.000đ (chín triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng)
- Trả cho bị cáo Lê Thị Hồng C số tiền 37.700.000đ (ba bảy triệu bảy trăm nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tôi của bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ)
- Vật chứng là 01 quyển vở có bìa màu vàng chanh, có kích thước 17,9cm x 25,2cm, trên bìa có chữ GENIUS, bên trong quyển vở có nhiều tờ giấy hai mặt màu trắng, trong đó có 02 tờ giấy các mặt ghi các chữ và số bằng mực màu xanh. và 01 (một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang, kích thước 06x3,8 cm, một mặt có ghi chữ và số bằng mực màu xanh lưu hồ sơ vụ án.
5. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Thị Hồng C, Trần Thị Lệ T, Nguyễn Kim L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Ái N được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình Yên |
Bản án số 23/2025/HS - ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 23/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo C,T,N,L1 phạm tội đánh bạc
