Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-PT
Ngày: 01 - 4 - 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Thành Tân
Các Thẩm phán: bà Võ Thị Mỹ Dung
ông Nguyễn Phước Hùng

Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Thị Kim Ni – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2025/TLPT-HS, ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Minh T, Văn Đức Â, Phan Văn T1, Đặng Đức C, Trần Hoàng T2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST, ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Minh T, sinh năm 1982, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp P, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sơn H (chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Hồng T3 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

  2. Văn Đức Â, sinh năm 1990, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp N, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Đức T4 và bà Thái Thị B; có vợ là Lê Thị Ú và 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền sự, tiền án: không.

    Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

  3. Phan Văn T1, sinh năm 1985, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: chăn nuôi; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính; nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T5 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Đặng Thị N1 và có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

  4. Đặng Đức C, sinh năm 1975, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính; nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C1 và bà Nguyễn Thị C2; có vợ là Nguyễn Thị T6 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

  5. Trần Hoàng T2, sinh năm 2000, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp N, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính; nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T7 và bà Lê Thị Thu N2; anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa cho bị cáo Văn Đức Á: ông Nguyễn Đức D là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh V. (có mặt)

Những người tham gia tố tụng khác: Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại khu vườn hoang thuộc ấp A, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, Phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Vĩnh Long, phối hợp cùng Đội cảnh sát hình sự Công an huyện V và Công an xã Q, kiểm tra, phát hiện và lập biên bản nhiều đối tượng đang đánh bạc với hình thức đá gà thắng thua bằng tiền, gồm: Nguyễn Văn T8, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn D1, Võ Đông Q, Trần Hoàng T2, Đặng Đức C, Lê T9, Trần Văn K, Lê Văn N3, Phan Văn T1, Nguyễn Văn L1, Ngô Văn P, Lê Phước T10, Nguyễn Hoàng T11.

Ngoài ra, nhiều đối tượng khác chạy thoát.

Tang vật tạm giữ gồm: 02 con gà trống nòi, 02 cây cựa sắt, 10 cuộn băng keo đã qua sử dụng, tạm giữ trên người các đối tượng tổng số tiền: 44.460.000 đồng và 15 điện thoại di động các loại, tạm giữ 11 xe mô tô các loại.

Kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 25/12/2023, Nguyễn Minh T lần lượt điện thoại rủ Lê Văn N3, Văn Đức Â, Lê Phước T10 và Ngô Văn P đem gà đến sân gà tại khu vườn hoang thuộc ấp A, xã Q, huyện V, để đá gà thắng thua bằng tiền do T làm biện tổ chức đá gà; Nhanh, T10, P và Â đồng ý.

Lê Văn N3 sau khi nghe điện thoại xong đã rủ Trần Văn K mang theo con gà trống nòi của K;

Ngô Văn P rủ Võ Đông Q mang theo 01 con gà của P;

Lê Phước T10 mang theo 01 cặp cựa sắt và 01 con gà trống nòi.

Văn Đức  mang theo 02 con gà trống nòi, 01 cặp cựa sắt lần lượt đi đến sân gà.

Ngoài ra còn có Nguyễn Văn D1, Phan Văn T1, Đặng Đức C, Trần Hoàng T2, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T8, Nguyễn Hoàng T11 và nhiều người khác đi đến sân gà để chơi đá gà thắng thua bằng tiền.

Khi tất cả có mặt, T cáp độ, cân gà:

1. Độ gà thứ nhất:

Gà bướm của Trần Văn K đá với gà điều xanh của Văn Đức Â, do 02 con gà có trọng lượng bằng nhau cùng 3,4kg, nên T cáp độ đá đồng. Số tiền cược trong sổ 1.100.000 đồng; đá giao hữu 1.000.000 đồng, xác gà trị giá 300.000 đồng. T đưa băng keo cho 02 bên chủ gà trồng cựa. Sau khi 02 bên trồng cựa xong chuẩn bị thả gà thì bên ngoài (hàng sáo) tham gia cược tiền, số tiền đá gà thông qua T như sau:

Bên gà của Văn Đức Â: Ân cược 1.100.000 đồng; Đặng Đức C cược 1.000.000 đồng; Phan Văn T1 cược 500.000 đồng; Trần Hoàng T2 cược 500.000 đồng; Nguyễn Văn T8 cược 500.000 đồng; Nguyễn Văn L1 cược 500.000 đồng; còn lại 1.000.000 đồng T không nhớ rõ những ai cược do số tiền cược từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Tổng cộng là 5.100.000 đồng.

Bên gà của Trần Văn K: Lê Văn N3 cược 1.100.000 đồng; Nguyễn Văn D1 cược 500.000 đồng; Trần Văn K cược 500.000 đồng; Nguyễn Văn V cược 1.000.000 đồng. Còn lại số tiền 2.000.000 đồng, T không nhớ rõ những ai cược do số tiền cược từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Tổng cộng là 5.100.000 đồng.

Tổng số tiền dùng đánh bạc của độ gà này là: 10.800.000 đồng (trong đó số tiền cược độ gà 02 bên là 10.200.000 đồng và xác gà 02 bên số tiền là 600.000 đồng).

Kết quả gà của Văn Đức  đá thắng. T gom tiền thua bên gà Trần Văn K được số tiền 3.600.000 đồng. T chung cho Nguyễn Văn T8 500.000 đồng và Nguyễn Văn L1 500.000 đồng tiền thắng cược. Số tiền còn lại, T nói với  tiếp tục đá độ gà thứ hai xong thì chung tiền.

2. Độ gà thứ hai:

Sau khi độ gà thứ nhất đã xong, T tiếp tục cáp độ gà bông của Lê Phước T10 đá với gà điều đỏ của Văn Đức Â. Do con gà của  có trọng lượng 2,960kg nặng hơn trọng lượng gà của T10 là 2,820kg nên T cáp độ gà của  chấp gà của T10 (đá 10 ăn 7). Số tiền cược trong sổ 1.100.000 đồng; đá giao hữu 1.000.000 đồng, xác gà trị giá 200.000 đồng. T đưa băng keo cho 02 bên chủ gà trồng cựa. Sau khi 02 bên trồng cựa xong chuẩn bị thả gà thì bên ngoài (hàng sáo) tham gia cược. Số tiền đá gà thông qua T như sau:

Bên gà của Văn Đức Â: Ân cược 2.100.000 đồng; C cược 1.000.000 đồng, T1 cược 500.000 đồng, T2 cược 500.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng T không nhớ rõ những ai cược do số tiền cược từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Tổng cộng là 5.100.000 đồng.

Bên gà của Lê Phước T10: Trọng cược 2.870.000 đồng, Võ Đông Q cược 350.000 đồng, Nguyễn Hoàng T11 cược 350.000 đồng. Tổng cộng là 3.570.000 đồng.

Tổng số tiền dùng đánh bạc của độ gà này là: 9.070.000 đồng (trong đó số tiền cược độ gà 02 bên là 8.670.000 đồng và xác gà 02 bên số tiền là 400.000 đồng).

Kết quả gà của Lê Phước T10 đá thắng. T chưa gom đủ tiền để chung cho Lê Phước T10 nên hẹn lại; T có chung cho Võ Đông Q 500.000 đồng.

Sau khi kết thúc độ gà thứ hai, T tiếp tục cáp độ gà thứ ba, gà của Ngô Văn P đá với gà của người có tên P1 (chạy xác định được là ai, ở đâu) đá cược số 100.000 đồng. T đưa băng keo cho 02 bên trồng cựa, Nguyễn Minh T12 ôm gà cho Võ Đông Q trồng cựa, khi hai bên đang trồng cựa thì lực lượng Công an vào bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.

Tuyên bố các bị cáo Văn Đức Â, Đặng Đức C, Phan Văn T1, Trần Hoàng T2 cùng phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T 01 năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 tháng tù, về tội “Đánh bạc”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 06 tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Văn Đức Â: 09 (chín) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Đặng Đức C: 06 tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Trần Hoàng T2: 06 tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Phan Văn T1 06 tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

  6. Về hình phạt bổ sung:

    - Buộc bị cáo Nguyễn Minh T nộp số tiền 20.000.000đ, bị cáo Văn Đức Â, Lê Phước T10, Lê Văn N3 mỗi bị cáo nộp số tiền 10.000.000đ, để sung vào công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn quyết định xử phạt các bị cáo Lê Phước T10, Nguyễn Văn V, Lê Văn N3 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T8, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn D2, Nguyễn Hoàng T11, Trần Văn K 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm; xử phạt bị cáo Võ Đông Q 09 tháng cải tạo không giam giữ; Quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30/12/2024 bị cáo Trần Hoàng T2, Văn Đức A có đơn kháng cáo nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Riêng bị cáo  kháng cáo thêm nội dung xin cho bị cáo miễn hình phạt bổ sung.

Ngày 02/01/2025 bị cáo Phan Văn T1, Đặng Đức C có đơn kháng cáo nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 03/01/2025 bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo trình bày như sau:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: sau khi xét xử sơ thẩm cả 05 bị cáo Nguyễn Minh T, Văn Đức Â, Phan Văn T1, Đặng Đức C, Trần Hoàng T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Riêng bị cáo  kháng cáo thêm về hình phạt bổ sung, bị cáo  xin được miễn hình phạt bổ sung.

Tại phiên tòa hôm nay hai bị cáo T và  vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Qua nghiên cứu toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong quá trình xét xử các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo T là người tổ chức đánh bạc, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác đánh bạc bằng hình thức đá gà ăn thua với tổng số tiền 21.400.000 đồng và thu tiền sâu là 600.000 đồng, bị cáo T cũng tham gia đánh bạc với vai trò là người giúp sức cáp độ, cân gà, làm trọng tài, thu tiền cá cược để các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc; bị cáo Â, T1, C, T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền 21.400.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo và quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Đối với kháng cáo của bị cáo  xin miễn hình phạt bổ sung là có căn cứ, vì gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.

Tại phiên tòa hôm nay ba bị cáo Phan Văn T1, Đặng Đức C và Trần Hoàng T2 rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo này là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Phan Văn T1, Đặng Đức C và Trần Hoàng T2; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Â; sửa một phần về hình phạt bổ sung của Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và 38 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T 01 năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 tháng tù, về tội “Đánh bạc”.

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều Điều 55 của Bộ luật Hình sự;

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 01 năm 06 tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58 và 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Văn Đức  09 tháng tù, về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về hình phạt bổ sung:

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo: Văn Đức Â.

4. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 23 của Nghịquyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Văn Đức  không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Văn Đức Á trình bày: sau khi được bị cáo Minh T gọi điện thoại rủ mang gà đến khu vườn hoang thuộc ấp A, xã Q, huyện V, để đá gà thắng thua bằng tiền; bị cáo mang 02 con gà nòi đến nơi hẹn; tại đây, bị cáo dùng 02 con gà của mình đá 02 độ gà, do Minh T cáp độ, cân trọng lượng gà, làm trọng tài, làm biện thu tiền và cung cấp băng keo, để các bên trồng cựa sắt vào chân các con gà. Bị cáo biết hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung, vì bị cáo là lao động chính, gia đình thuộc hộ cận nghèo.

Người bào chữa cho bị cáo Văn Đức Á trình bày: bị cáo  kháng cáo 02 nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo và xin miễn hình phạt bổ sung. Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận kháng cáo để miễn áp dụng hình phạt bổ sung, nên Trợ giúp viên pháp lý chỉ đề nghị xem xét về hình phạt đối với bị cáo, vì bị cáo đã tự nguyện nộp nhiều hơn số tiền tham gia đánh bạc, điều đó thể hiện việc bị cáo khắc phục hậu quả, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo tham gia 02 độ gà, nhưng đều là tội phạm ít nghiêm trọng, nên lần phạm tội thứ nhất bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bản thân bị cáo đã thật thà khai báo, được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt; do đó, Trợ giúp viên pháp lý đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, để cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Minh T trình bày: hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án mà cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Bị cáo đã biết việc rủ rê các bạn để đá gà ăn thua bằng tiền; đồng thời, bị cáo còn cáp độ để đá gà như: cân trọng lượng gà, làm biện thu tiền cá cược, cung cấp băng keo để trồng cựa sắt vào chân gà và làm trọng tài, là vi phạm pháp luật; bị cáo ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Các bị cáo Phan Văn T1, Đặng Đức C và Trần Hoàng T2 trình bày: tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là tương xứng, không nặng nên tất cả các bị cáo đều xin rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo, để chấp hành mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên.

Bị cáo Nguyễn Minh T và bị cáo Văn Đức Á nói lời sau cùng: đều xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Riêng bị cáo  còn xin được miễn hình phạt bổ sung, vì bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Minh T, Văn Đức Â, Phan Văn T1, Đặng Đức C và bị cáo Trần Hoàng T2 khai nhận: ngày 25/12/2023, tại khu vườn hoang thuộc ấp A, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo T đã tiến hành tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền cho bị cáo Â, C, T1, T2 (tham gia 02 độ) cùng những người khác đã tham gia cược đá gà, với số tiền thắng thua tổng cộng là 21.400.000 đồng. Riêng bị cáo T cũng tham gia đánh bạc với vai trò là người giúp sức tích cực như: cáp độ gà, cân gà, làm trọng tài, thu tiền cá cược, cung cấp băng keo để trồng cựa sắt vào chân gà. Do đó, đã đủ cơ sở để xác định việc cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Minh T phạm vào tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, và tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, còn các bị cáo Văn Đức Â, Đặng Đức C, Phan Văn T1 và Trần Hoàng T2 đều phạm vào tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo Đặng Đức C, Phan Văn T1 và Trần Hoàng T2 xin rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo, để chấp hành hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi để có thu nhập bất chính, các bị cáo đã xem thường pháp luật. Bị cáo T đã rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác đến tham gia đá gà được ăn thua bằng tiền, nên hành vi đã phạm vào tội tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, nhưng cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo T 01 năm tù; ngoài ra, bị cáo T còn có các hành vi như: cáp độ gà, cân gà, làm trọng tài, thu tiền cá cược, cung cấp băng keo để các bị cáo khác trồng cựa sắt vào chân các con gà, nên đã đồng phạm với các bị cáo khác về tội đánh bạc, với vai trò giúp sức tích cực. Hành vi của bị cáo T,  đã phạm vào khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù, nhưng cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo T 06 tháng tù; xử phạt bị cáo  09 tháng tù, do bị cáo  mang 02 con gà để cá cược và đã tham gia 02 độ gà, như vậy là phạm tội 02 lần trở lên, đây là tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, quyết định của bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do các bị cáo thực hiện. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết nào mới, có ý nghĩa làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên xét thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với kháng cáo của bị cáo  về việc xin miễn hình phạt bổ sung là có căn cứ, bởi vì: gia đình bị cáo  có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có 02 con còn nhỏ, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo.

Đối với các bị cáo Đặng Đức C, Phan Văn T1 và Trần Hoàng T2 xin rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo, xét việc các bị cáo rút đơn kháng cáo là tự nguyện, nên cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo và Quyết định của án sơ thẩm đối với các bị cáo C, T1 và T2 có hiệu lực pháp luật.

[3] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, về việc đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo C, T1 và T2, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo T,  và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo  về miễn hình phạt bổ sung là có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

[4] Xét lời đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý, về việc chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo  là không có căn cứ pháp luật nên không được chấp nhận; bởi lẽ: việc Trợ giúp viên pháp lý cho rằng bị cáo  tự nguyện nộp số tiền tham gia đánh bạc là nhằm khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là không chính xác, vì trong vụ án này khách thể bị xâm phạm là nền an ninh trật tự xã hội, chứ không bị cáo nộp lại để bồi thường thiệt hại; đồng thời, bị cáo phạm tội liên tục, nên cũng không được xem là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo  được chấp nhận một phần kháng cáo và bị cáo thuộc hộ cận nghèo, nên được miễn nộp toàn bộ án phí.

Đối với các bị cáo T1, C và T2 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phan Văn T1, Đặng Đức C, Trần Hoàng T2.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T; chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Văn Đức Â, sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST, ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (sáu) tháng tù, về tội “Đánh bạc”.

    Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự:

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Minh T chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: bị cáo Văn Đức  09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về hình phạt bổ sung:

    Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Văn Đức Â.

  4. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

    Miễn toàn bộ án phí đối với bị cáo Văn Đức Â.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
  • - TANDTC: 01;
  • - TANDCC: 01;
  • - VKSNDCC: 01;
  • - VKSND TVL: 01;
  • - TAND +VKSND HVL: 06;
  • - CQTHADS HVL: 01;
  • - BC+ NBC: 06;
  • - P HỒ SƠ-CAVL: 01;
  • - STP: 01;
  • - UBND xã Q: 04;
  • - UBND xã T: 01;
  • - TNV+P KTNV:02;
  • - Lưu: 04.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 23/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger