Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-PT

Ngày 03 - 3 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu.
  Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 186/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Võ Thành N, Trần Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 171/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Võ Thành N, sinh ngày 07-11-2003 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ A, thôn P, xã T, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Tổ A, thôn P, xã T, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Võ Thanh C1; Mẹ: Trần Thị R; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt ngày 10-01-2024, chuyển tạm giam ngày 19-01-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

  2. Trần Văn T; sinh năm 1978 tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: ấp L, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn T1 (đã chết); Mẹ: Bùi Thị L; Vợ: Trần Thị Huyền Q 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Đối với hành vi buôn bán hàng cấm của Trần Văn H, Trần Văn H1 và Võ Thành N:

Do không có việc làm nên Trần Văn H nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán lại kiếm lời và rủ Trần Văn H1, Võ Thành N cùng tham gia thì H1 và N đồng ý. Theo thỏa thuận, H mua pháo nổ từ thành phố Hồ Chí Minh về thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và cất giấu tại nhà của N ở tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi có người mua pháo thì H yêu cầu H1 đến nhà N để lấy pháo đi bán cho người mua. H trả công cho H1 và N theo thỏa thuận bán được nhiều hàng thì hưởng nhiều, bán ít thì hưởng ít. Đồng thời H đồng ý để H1 và N tự kiếm khách và bán hàng cho H, nếu bán được cao hơn giá H đưa ra thì được hưởng thêm phần chênh lệch.

Vào lúc 14 giờ 50 phút, ngày 10-01-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P phối hợp Công an xã T, thị xã P kiểm tra hành chính nơi ở của Võ Thành N tại tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phát hiện bắt quả tang N đang có hành vi tàng trữ trái phép pháo hoa nổ.

Thu giữ tang vật gồm: 21 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống; 02 bịch nylon, bên trong mỗi bịch có 100 quả pháo banh; 04 bệ pháo hoa nổ loại 09 ống; 11 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống và 01 điện thoại di động Iphone, màu bạc, đã qua sử dụng.

Tại cơ quan Công an, Võ Thành N khai nhận số pháo thu giữ là của Trần Văn H, Trần Văn H1 và N cùng cất giấu để bán lại kiếm lời. H đã trả công cho H1 số tiền 1.800.000 đồng và trả công cho N số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền này H1 và N đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra quá trình điều tra các bị cáo Võ Thành N, Trần Văn H, Trần Văn H1 còn khai nhận trong khoảng thời gian từ ngày 29-12-2023 đến ngày 10-01-2024, H, H1 và N đã 06 lần bán pháo nổ cho người khác. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 12 năm 2023, H lên mạng xã hội Facebook trang “Pháo hoa không cọc” và liên hệ với một người đàn ông tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh để mua pháo nổ về bán lại kiếm lời. Ngày 29-12-2023, H mua của T1 96 (chín mươi sáu) bệ pháo hoa nổ loại 36 ống với giá 500.000 đồng/01 bệ. Sau khi mua được pháo nổ, H yêu cầu H1 gọi N ra Ngã tư Hội Bài thuộc xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để nhận pháo rồi đem về nhà của N tại tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để cất giấu. Cùng ngày, H1 thông báo cho H biết có 02 người khách (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mua 30 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống và 10 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống thì H đồng ý bán cho khánh của H1 với giá 650.000 đồng/01 bệ. H1 bán lại cho khách 700.000 đồng/01 bệ và yêu cầu N đóng gói pháo nổ gửi đi cho khách.

Lần thứ hai: Ngày 03-01-2024, H1 thông báo cho H biết có khách mua 30 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống thì H báo giá bán là 650.000 đồng/01 bệ. Sau đó H1 điện thoại cho Trần Văn T để chào hàng đối với 30 bệ pháo hoa nổ và bán cho T với giá 700.000 đồng/01 bệ. T đồng ý mua và yêu cầu H1 giao pháo đến tiệm dán decan xe “Thiệu” ở ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. H1 yêu cầu N đóng gói 30 bệ pháo hoa loại 36 ống gửi đi cho T. Sau khi đóng hàng vào thùng carton, N thuê 02 người đàn ông (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) chuyển pháo xuống cho T. Đến 22 giờ cùng ngày, T nhận được pháo và chuyển cho H1 số tiền 3.000.000 đồng để H1 trả tiền thuê xe.

Lần thứ ba: Ngày 04-01-2024, H đến nhà của N tự đóng gói 16 (mười sáu) bệ pháo hoa nổ loại 36 ống để bán cho một người khách (không rõ nhân thân, lai lịch) ở thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 10.400.000 đồng. Sau đó, H đến cửa hàng điện thoại di động (không nhớ rõ địa chỉ của hàng) xin số tài khoản ngân hàng đề người mua chuyển trước số tiền 4.000.000 đồng cho H. Số pháo còn lại là 10 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống N tiếp tục cất giấu tại nhà của N.

Lần thứ tư: Ngày 05-01-2024, H tiếp tục mua của T1 21 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống, 11 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống, 05 bệ pháo hoa nổ loại 09 ống và 02 bịch pháo banh với giá 15.000.000 đồng rồi cất giấu tại nhà của N.

Sáng ngày 06-01-2024, H đến nhà của N lấy 01 bệ pháo hoa nổ loại 09 ống tặng cho một người bạn tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) tại tỉnh Bình Thuận. Chiều cùng ngày, H1 thông báo cho H có khách (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) ở thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mua 05 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống với giá 3.500.000 đồng thì H đồng ý bán và yêu cầu H1 liên hệ với N để N đóng gói pháo giao cho khách. Tối cùng ngày, H đưa thông tin tài khoản ngân hàng của người đàn ông tên T1 để H1 chuyển trả số tiền mua hàng là 15.000.000 đồng là tiền H mua pháo của T1 vào ngày 05-01-2024.

Lần thứ năm: Ngày 07-01-2024, H điện thoại cho N yêu cầu N đóng gói 05 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống và bán cho khách (không rõ nhân thân, lai lịch) tại huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 3.500.000 đồng.

Lần thứ sáu: Ngày 09-01-2024, H chỉ đạo H1 đến gặp N để đóng thùng hàng gồm 21 bệ pháo hoa nổ loại 36 ống, 05 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống để bán cho khách (không rõ nhân thân, lai lịch) ở thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tuy nhiên, khách trả lại hàng cho H do không đạt yêu cầu (một số bệ pháo bị rách và móp méo). Đến 10 giờ ngày 10-01-2024, N nhận được hàng do khách trả thì N thông báo cho H biết, sau đó H và H1 đến nhà của N để cùng kiểm tra pháo quay phim lại việc kiểm tra pháo nhằm mục đích yêu cầu T1 trả lại tiền đổi cho H số pháo khác. Sau khi kiểm tra hàng bị trả xong, H và H1 ra về.

Tại bản Kết luận giám định số 820/KL-KTHS-MT ngày 13-01-2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“- 36 (ba mươi sáu) khối hình hộp chữ nhật, có các kích thước khác nhau, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có nhiều ống (trong đó: 21 hộp loại 36 ống, 11 hộp loại 49 ống, 04 hộp loại 09 ống) gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng 46,8kg.

- 02 (hai) túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,7cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Tổng khối lượng 0,9kg”.

* Đối với hành vi buôn bán hàng cấm của Trần Văn H1 và Trần Văn T:

Ngày 15-12-2023, H1 lên Facebook trang "Pháo hoa không cọc" liên hệ với một người (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 20 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống và 03 bịch pháo banh với giá 12.600.000 đồng rồi bán cho Trần Văn T với giá 15.000.000 đồng. Hưởng lợi số tiền 2.400.000 đồng. Sau khi mua được pháo, T cất giấu tại nhà của T ở ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thiệu đã bán được 13 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống với giá 750.000 đồng/01 bệ và 01 bịch pháo banh với giá 450.000 đồng cho những người đến tiệm dán decal xe của T (không rõ nhân thân, lai lịch). Còn lại 07 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống và 02 bịch pháo banh thì T tiếp tục cất giấu tại nhà của T nhằm mục đích bán lại cho người khác kiểm lời. Ngày 03-01-2024, T tiếp tục mua của H1 30 bệ pháo hoa nổ với giá 700.000 đồng/01 bệ. Đến 22 giờ cùng ngày thì T nhận được pháo và để trước của phòng ngủ của T rồi chuyển trả trước cho H1 số tiền 3.000.000 đồng để H1 thanh toán tiền xe thuê chuyển pháo. Đến 22 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đang ở tiệm dán decan xe “Thiệu” ở ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã P, huyện L kiểm tra hành chính, bắt quả tang T đang có hành vi tàng trữ 01 thùng carton bên trong có chứa 30 bệ pháo hoa loại 36 ống. Khi bị cơ quan Công an bắt quả tang, Thiệu tự nguyện giao nộp thêm 07 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống và 02 túi nylon, bên trong có chứa nhiều quả pháo banh có hình cầu nhiều màu sắc mà T mua của Trần Văn H1 vào ngày 15-12-2023 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng.

Tại Bản kết luận giám định số: 697/KL-KTHS ngày 19-01-2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Bộ C2) kết luận:

“+ 30 (ba mươi) khối hình hộp chữ nhật có kích thước 14cm x 14cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 36 ống giấy hình trụ tròn dài gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 36,1kg.

+ 07 (bảy) khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn dài gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 11kg.

+ 02 (hai) túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Tổng khối lượng là 0,9kg.”

2. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 171/2024/HSST ngày 27-9-2024 của Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành N, Trần Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thành N 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2024.

Áp dụng điểm g Kkhoản 2 Điều 190; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với số tiền thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

  • - Ngày 04-10-2024 bị cáo Võ Thành N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
  • - Ngày 07-10-2024 bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được chuyển sang hình phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm

  • - Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Về tố tụng: Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã kết án các bị cáo Võ Thành N, Trần Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Võ Thành N 07 (bảy) năm tù; bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:

    Khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 10-01-2024, tại nơi ở của Võ Thành N tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P phối hợp Công an xã T, thị xã P kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Trần Văn H, Trần Văn H1, Võ Thành N đang có hành vi tàng trữ trái phép 21 (Hai mươi mốt) bệ pháo hoa nổ loại 36 ống, 04 (Bốn) bệ pháo hoa nổ loại 09 ống, 11 (Mười một) bệ pháo hoa nổ loại 49 ống kết quả giám định có tổng khối lượng 46,8kg và 02 (Hai) bịch nylon, bên trong mỗi bịch có 100 quả pháo banh (pháo nổ) có tổng khối lượng 0,9kg nhằm. Mục đích các bị cáo tàng trữ để bán lại kiếm lời.

    Ngày 03-01-2024, tại nhà của Trần Văn T ấp L, xã P, huyện L (L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang T có hành vi tàng trữ 07 (Bảy) bệ pháo hoa nổ loại 49 ống có khối lượng 11kg; 02 (Một) túi nylon chứa pháo banh (pháo nổ) có khối lượng 0,9kg; 30 (Ba mươi) bệ pháo hoa nổ loại 36 ống có khối lượng 36,1kg. Nguồn gốc số pháo trên là do T mua của Trần Văn H1 và mục đích Thiệu tàng trữ để bán lại kiếm lời.

    Như vậy, tổng số kilogam pháo nổ mà Trần Văn H tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời là 83,8kg; Trần Văn H1 là 95,7 kilogam; Võ Thành N là 83,8 kg và Trần Văn T là 48 kilogam.

    Do đó Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Võ Thành N, Trần Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phả của các bị cáo như sau:

    Hành vi phạm tội các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển và tàng trữ là pháo nổ. Bản thân các bị cáo ý thức được pháo nổ là hàng hóa cấm tàng trữ, kinh doanh nhưng vì muốn kiếm lời nhanh chóng từ hành vi bái trái phép pháo nổ cho người khác nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt tưng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

    Đối với bị cáo N khi được H rủ rê bị cáo đã tích cực tham gia, cụ thể bị cáo đã đem khối lượng pháo nổ do H mua về cất giấu tại nhà của bị cáo, giao hàng theo yêu cầu của H nên phải chịu mức hình phạt tương ứng với vai trò đồng phạm của mình.

    Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Từ đó tuyên phạt bị cáo Võ Thành N 07 (bảy) năm tù; bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo.

    Đối với bị cáo N không bổ sung tình tiết mới mà chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên không có cơ sở xem xét kháng cáo của bị cáo; Đối với bị cáo T bổ sung đơn thể hiện nội dung hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chưa được cấp sơ thẩm xem xét.

    Do đó, căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và điểm c khoản 1 357 Bộ luật Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N; chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa Bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

  4. Do kháng cáo của bị cáo N không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định; kháng cáo của bị cáo T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

    Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thành N, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Võ Thành N tại Bản án sơ thẩm số 171/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, sửa phần hình phạt của bị cáo Trần Văn T tại Bản án sơ thẩm số 171/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tuyên bố: Các bị cáo Võ Thành N, Trần Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ Thành N 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2024.

    - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 171/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí:
    • - Bị cáo Võ Thành N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Bị cáo Trần Văn T không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/3/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 17 Công an tỉnh BR-VT ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - TAND thành phố Phú Mỹ;
  • - VKSND thành phố Phú Mỹ;
  • - Công an thành phố Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Mỹ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Trí Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 23/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thành Nhân (2bc) - Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger