Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 23/2025/HS-PT

Ngày 10-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang

Ông Nguyễn Quang Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:

Bà Hà Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 14/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo củabị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:01/2025/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn T; sinh ngày: 12/6/1976 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu C, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ;Nghề nghiệp: Lao động tự do;Văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam;Bố đẻ:Trần Văn X, sinh năm 1955;Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957;Vợ: Tạ Thị N, sinh năm 1978;Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2002;Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Bản án số: 61/2010/HSST ngày 29/11/2010, TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, T đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đã được xoá án tích.

Ngày 14/11/2022, bị Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 158/QĐ-XPVPHC ngày 14/11/2022. Ngày 25/12/2024, Trần Văn T nộp phạt theo biên lai số: 4388004 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 04/10/2024. Bị cáo thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến ngày 28/12/2024. Có mặt.

- Ngoài ra còn có 02 bị cáo có kháng cáo nhưng đã rút toàn bộ kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩmvà 04 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 40 phút ngày 27/9/2024, tổ công tác của Công an huyện T nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc: tại nhà ở của Tạ Văn C, ở khu C, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ có một số đối tượng đang có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền. Tổ công tác của Công an huyện T đã phối hợp với Công an xã S kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang 05 đối tượng gồm: Trần Văn T2, Trần Thế M, cùng ở khu B, xã S, Tạ Văn C, Trần Văn T, Tạ Văn T3 cùng ở khu C, xã S đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi “Liêng”. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.920.000 đồng (Năm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu mành màu vàng. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện T để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay đã chứng minh, làm rõ hành vi của các đối tượng như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 27/9/2024, Tạ Văn T3, Trần Văn T, Trần Văn T2, Trần Thế M, Trần Thế H, đều thường trú tại khu B, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Phùng Văn H1, ở khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ cùng đến nhà Tạ Văn C để ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày sau khi uống rượu xong, Tạ Văn T3 rủ Tạ Văn C, Trần Văn T2, Trần Văn T, Trần Thế H, Trần Thế M và Phùng Văn H1 đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền thì được các đối tượng đồng ý. Chuyền bảo các đối tượng vào phòng ngủ ở tầng 1 của gia đình Chuyền để đánh bạc. Khi các đối tượng đi vào phòng ngủ tầng 1 thì thấy tại nền phòng ngủ có trải sẵn 01 chiếc chiếu mành màu vàng, trên chiếu có để sẵn 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Sau đó, Tạ Văn T3, Tạ Văn C, Trần Văn T, Trần Văn T2, Trần Thế H, Trần Thế M và Phùng Văn H1 cùng ngồi xuống chiếu để đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng” được thua bằng tiền.

Vị trí ngồi như sau: C ngồi ở góc tường mặt hướng ra cửa ra vào phòng ngủ, ngồi bên tay phải C là Trần Văn T, ngồi bên tay phải T là Trần Văn T2, ngồi bên tay phải T2 là Phùng Văn H1, ngồi bên tay phải H1 là Trần Thế H, ngồi bên tay phải H là Tạ Văn T3, ngồi bên tay phải T3 là Trần Thế M. Các đối tượng thống nhất cách chơi như sau:

Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, khi chơi mỗi người chơi đặt cược số tiền 20.000 đồng vào giữa chiếu bạc (gọi là “Gà”), sau đó một người cầm cái cầm bộ bài tú lơ khơ chia cho mỗi người chơi 03 quân bài úp xuống chiếu. Người chơi xem bài của mình và tiếp tục cá cược thêm gọi là “Tố”. Người “Tố” đầu tiên là người cầm cái, người tiếp theo “Tố” là người ngồi bên phải người “Tố” trước, nếu thấy bài của mình không thể thắng cược thì bỏ bài và mất đi số tiền đã đặt cược, nếu thấy bài của mình có thể thắng thì theo tiền cược của người cược trước và có thể “Tố thêm”, số tiền “Tố” của mỗi ván bài không quá 20.000 đồng, sau đó người chơi mở bài để tính thắng thua. Người thắng cược ván trước được quyền chia bài ván tiếp theo và là người “Tố” đầu tiên của ván bài tiếp theo.

Cách tính thắng thua trong mỗi lần chơi như sau: “Liêng” là 03 quân bài liên tiếp nhau, không cần cùng chất như 3 4 5; 9 10 J, ... theo thứ tự cao nhất là “Liêng” Q K A, thấp nhất là “Liêng” 1 2 3. “Điểm” là cộng tổng số điểm của ba quân bài lại trong đó Á tính là 1 điểm; 10, J, Q, K tính là 0 điểm, các quân bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 là số điểm tương ứng với số mỗi quân bài; cao nhất là 9 điểm, thấp nhất là 0 điểm. Khi so bài thì lớn nhất là “Liêng” đến “Điểm”, nếu có cùng “Liêng”, “Điểm” thì sẽ so sánh quân bài cao thấp theo chất, thứ tự rô, cơ, tép, bích. Cách chơi cứ như vậy cho các ván tiếp theo. Quá trình đánh bạc, các đối tượng không phải nộp tiền hồ, tiền phế cho Đ.

Quá trình tham gia đánh bạc, Trần Thế H và Phùng Văn H1 thua hết số tiền nên ngồi ngoài xem. Các đối tượng Tạ Văn T3, Tạ Văn C, Trần Văn T, Trần Văn T2 và Trần Thế M đánh bạc liên tục đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và đã thu giữ vật chứng gồm: T4 tại chiếu bạc số tiền 5.920.000đ (Năm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng); 52 quân bài tú lơ khơ đã cũ; 01 (một) chiếu mành màu vàng (đã cũ). Sau đó tổ công tác đã đưa tất cả các đối tượng cùng toàn bộ vật chứng đã thu giữ về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để tiếp tục điều tra làm rõ.

Về số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ như sau: Tạ Văn T3 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc; Trần Văn T2 sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc; Trần Văn T sử dụng số tiền 850.000 đồng để đánh bạc; Tạ Văn C sử dụng số tiền 900.000 đồng để đánh bạc; Trần Thế M sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc; Trần Thể H sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc; Phùng Văn H1 sử dụng số tiền 570.000 đồng để đánh bạc.Như vậy, tổng số tiền 07 đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là 5.920.000 đồng (Năm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Tạ Văn T3, Tạ Văn C, Trần Văn T, Trần Văn T2, Trần Thế H, Trần Thế M và Phùng Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, vị trí ngồi, cách thức đánh bạc, phù hợp với Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ.

Đối với Tạ Văn C – là chủ nhà, C vừa cho các đối tượng sử dụng nhà ở của mình để đánh bạc, vừa trực tiếp tham gia đánh bạc. Quá trình các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình, C không thu bất cứ khoản tiền gì. Vì vậy hành vi của Tạ Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự chung về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Ngày 04/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, ra Quyết định khởi tố bị can đối với Tạ Văn T3, Tạ Văn C, Trần Văn T, Trần Văn T2, Trần Thế H, Trần Thế M và Phùng Văn H1 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 09/01/2025của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

1.Về tội danh: Căn cứ Khoản 1 Điều 321 - Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn T3, Tạ Văn C, Trần Văn T, Trần Văn T2, Trần Thế H, Trần Thế M, Phùng Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.

2.Về hình phạt:

Căn cứ Khoản 1Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Văn T.Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 09 (Chín) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 07 (Bảy) ngày tạm giữ (từ ngày 27/9/2024 đến ngày 04/10/2024). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn T5.

Ngoài ra bản ánsơ thẩm nêu trên còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, về vấn đề dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác.

Nội dung kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình, chăm sóc mẹ già. Kèm theo đơn kháng cáo, bị cáo Trần Văn T có Đơn xin xác nhận, có nguyện vọng xin được cải tạo ngoài xã hội vì hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn.

Các bị cáo Trần Thế H, Trần Văn T2 kháng cáo xin được hưởng án treo. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thế H và bị cáo Trần Văn T2 đã rút toàn bộ đơn kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ ánđối với bị cáo H và bị cáo T2.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn T thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo xin được cải tạo ngoài xã hội; bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới là Huy chương kháng chiến hạng Nhất của bà Phùng Thị T6 (mẹ vợ bị cáo) và Giấy chứng nhận Huân chương Chiến sĩ giải phóng của ông Tạ Duy P (bố vợ bị cáo), đây là các tình tiết giảm nhẹ mới đối với bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo, xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình và chăm sóc mẹ già.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T do có tình tiết mới.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn T. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 07 (Bảy) ngày tạm giữ (từ ngày 27/9/2024 đến ngày 04/10/2024) quy đổi thành 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo từ 250.000 đồng/tháng đến 300.000 đồng/tháng. Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thìphải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Văn T trong hạn luật định, đơn hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thế H và bị cáo Trần Văn T2 đã rút toàn bộ đơn kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

[2] Về những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận đã có hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 14 giờ 40 phút ngày 27/9/2024, tại phòng ngủ tầng 1 nhà ở của Tạ Văn C, ở khu C, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Tạ Văn C đã có hành vi sử dụng gian phòng ngủ của gia đình mình, có trải sẵn chiếu mành cọ và có sẵn 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân dưới chiếu rồi cùng các bị cáo Tạ Văn T3, Trần Văn T, Trần Văn T2, Trần Thế H, Trần Thế M và Phùng Văn H1 thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức chơi “Liêng” và đã bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, với tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là: 5.920.000 đồng(năm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).

Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Bị cáo Trần Văn T có vai trò là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc với các bị cáo khác. Tội phạm xảy ra mang tính bột phát, không có tính tổ chức mà là đồng phạm có tính chất giản đơn.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều hoàn toàn ý thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi đánh bạc, xâm phạm đến trật tự công cộng. Vì vậycấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theoquy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự làcó cơ sở và căn cứ theo đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân, mức độ phạm tội của bị cáo Trần Văn T để xử phạt bị cáo mức án09 tháng tù xét thấy phù hợp. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo là người cùng xã với nhau,trong quá trình đến nhà nhau ăn cơm mới phát sinh hành vi đánh bạc. Bị cáo Trần Văn T5 là người thực hành đánh bạc, không phải là người khởi xướng, số tiền đánh bạc không lớn.

Bị cáo Trần Văn T có nhân thân nêu trên, trong đó có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 14/11/2022, tính đến ngày phạm tội là ngày 27/9/2024 đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T cung cấp chứng cứ mới là: Đơn xin xác nhận, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã S là Trần Văn T trong thời gian qua luôn chấp hành tốt chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, tham gia tích cự các phong trào của khu dân cư;bố vợ được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng hai, mẹ vợ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, là những người có công với cách mạng.Đây là các tình tiết mới giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xétáp dụng đối với bị cáo Trần Văn T.Tính chất, mức độ của tội phạm lần này được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Trần Văn T có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên,không có tình tiết tăng nặng nào, bị cáo Trần Văn T5 có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Trần Văn T khỏi xã hội.Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị các Trần Văn T, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Thành hình P1 cải tạo không giam giữ trong khung hình phạt, giao cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo Trần Văn T, hình phạt đó cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo Trần Văn T trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.

[4] Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Trần Văn T được chấp nhận nên bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T.

Sửamột phầnBản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn T.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 21 (Hai mươi mốt) thángcải tạo không giam giữ, được khấu trừ 07 (Bảy) ngày tạm giữ kể từ ngày 27/9/2024 đến ngày 04/10/2024 quy đổi thành 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 20 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát giáo dục người đó.

Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Trần Văn T là 6% thu nhập của bị cáo, tính theo mức thu nhập thực tế5.000.000đ/tháng. Cụ thể là 5.000.000₫ x 6% = 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng)/01 tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.

Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thìphải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Bị cáo Trần Văn T phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo Trần Văn T vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáoTrần Văn T5.

3. Về án phí:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CQ THAHS CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND h. Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND h. Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - Người đã kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Thành.
  • - Chi cục THA DS huyện Thanh Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Chi

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 23/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T - đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger