TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2025 Về việc “Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh.
Ông Lý Quang Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu tham gia phiên toà:
Bà Đặng Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lù Thị M, sinh năm 1996.
- Bị đơn: Anh Thần A T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Bản H, xã S, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt tại phiên tòa.
Địa chỉ: Bản H, xã S, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” cùng các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Lù Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 A T tự nguyện về chung sống và đăng ký kết hôn ngày 24/8/2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, nay là xã S, tỉnh Lai Châu. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau tại địa phương, nhưng đến năm 2024 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do hai vợ chồng khác nhau trong cách làm ăn, sinh sống, bất đồng quan điểm sống, thường xuyển xảy ra cãi vã, cuộc sống không có hạnh phúc. Hiện chị M không còn tình cảm với anh T, do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1 A T.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Thần Văn M1, sinh ngày 14/5/2021. Cháu M1 đã chết tháng 4 năm 2025.
Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2025, bị đơn – anh T1 A T trình bày: Anh và chị M chung sống và và đăng ký kết hôn với nhau năm 2021, quá trình chung sống thì thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do chị M đi làm thuê, cuộc sống vợ chồng có sự xa cách nên cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay chị M đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh nhất trí.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án, thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án, việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa xét xử vụ án ngày hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/ NQ- HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lù Thị M. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị M được ly hôn với anh T1 A T. Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Anh, chị có 01 con chung là cháu Thần Văn M1, cháu M1 đã chết nên không xem xét. Về chia tài sản: Tài sản chung, công nợ chung, cho vay chung, các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy không xem xét. Về án phí: Chị Lù Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Thần A T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản H, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu (Nay là bản H, xã S, tỉnh Lai Châu). Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu. Tại phiên tòa, chị M và anh T đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị M và anh T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị M và anh T1 A T về chung sống và đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, việc chung sống và kết hôn đều trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị M và anh T hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không có hạnh phúc. Hiện nay chị M không còn tình cảm với anh T nên chị xin được ly hôn với anh T. Anh T2 đồng ý ly hôn với chị M.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng thời gian mâu thuẫn giữa chị M và anh T2 đã kéo dài, giữa chị M và anh T2 đều xác nhận cuộc sống vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau nữa, vợ, chồng không còn hạnh phúc. Trong thời gian mâu thuẫn chị M và anh T2 đều không tìm cách để hàn gắn tình cảm với nhau. Xét thấy hôn nhân giữa chị M và anh T2 đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ủy ban nhân xã S xác định giữa chị M và anh T2 đã sống ly thân với nhau một thời gian nên yêu cầu khởi kiện của chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T2 là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là cháu Thần Văn M1, cháu M1 đã chết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị M và anh T2 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Lù Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do vậy, quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; Các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5 của Nghị quyết số: 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị M được ly hôn với anh T1 A T.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh, chị có 01 con chung là cháu Thần Văn M1, cháu M1 đã chết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Lù Thị M và anh T1 A T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Lù Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị Lù Thị M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 0000052 ngày 18/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Đoàn |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về ly hôn
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lù Thị M và Thần A T
