TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày 30/9/2025 “V/v Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Ka Sô Bách.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Niê Y Ling (Ma Bin) và ông Ksor Y Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) khu vực 15 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở TAND khu vực 15 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2025 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/8/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/2025/QÐST-HNGĐ ngày 15/9/2025 của TAND khu vực 15 – Đắk Lắk giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1969; trú tại: Thôn Chí Thán, xã Đức Bình, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Mẹo, sinh năm 1964; trú tại: Thôn Chí Thán, xã Đức Bình, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 20/5/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan (gọi tắt là nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lan (tên gọi khác: Nguyễn Thị Thanh Lan) và ông Nguyễn Xuân Mẹo tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm năm 1989 tại Ủy ban nhân dân xã Hoà Thắng, thị xã Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (cũ). Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc, sau đó vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lan khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Lan ly hôn với ông Mẹo.
Về con chung: Vợ chồng bà Lan với ông Mẹo có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thuý Ny, sinh ngày 03/5/1990 và Nguyễn Xuân Duy, sinh ngày 21/9/2000. Hai người con chung đều đã thành niên, có khả năng lao động và có cuộc sống gia đình riêng nên bà Lan không yêu cầu Toà án giải quyết con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lan không yêu cầu Toà giải quyết.
Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án ông Mẹo vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, bà Lan giữ nguyên yêu cầu ly hôn, không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản và nợ chung.
Đại diện VKSND khu vực 15 – Đắk Lắk phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án và tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Bị đơn ông Mẹo đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; 02 người con chung của bà Lan, ông Mẹo đều đã thành niên và có khả năng lao động nên đề nghị không xem xét. Nguyên đơn bà Lan không yêu cầu toà giải quyết về tài sản và nợ chung nên đề nghị không xem xét giải quyết; nguyên đơn bà Lan phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn có địa chỉ ĐKHKTT tại Thôn Chí Thán, xã Đức Bình, tỉnh Đắk Lắk theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, TAND khu vực 15 – Đắk Lắk thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
- Quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Hoà Thắng, thị xã Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (cũ) vào năm 1989 nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Xét thấy bà Lan và ông Mẹo đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay không ai còn quan tâm chăm sóc nhau nữa là thể hiện tình cảm vợ chồng bà Lan và ông Mẹo mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn được. Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bị đơn vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài chung sống thì gây thêm bất hạnh cho nhau. Do đó, HĐXX có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn với ông Mẹo của bà Lan.
- Con chung: Có 02 con chung Nguyễn Thị Thuý Ny, sinh ngày 03/5/1990 và Nguyễn Xuân Duy, sinh ngày 21/9/2000, các con đều đã thành niên, có khả năng lao động và đã có cuộc sống gia đình riêng nên không không xem xét giải quyết.
- Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn vắng mặt, không có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Lan phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002119 ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên (cũ).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan.
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Xuân Mẹo.
2. Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Thị Thuý Ny, sinh ngày 03/5/1990 và Nguyễn Xuân Duy, sinh ngày 21/9/2000, các con đều đã thành niên và có khả năng lao động, nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0002119 ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên (cũ).
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ka Sô Bách |
4
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK về hôn nhân gia đình (xin ly hôn)
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Xin ly hôn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L xin ly hôn với ông M
