|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 5 năm 2025
V/v “Tr/c Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thùy Phương
2. Ông Nguyễn Quang Tuyến
- Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Lan Phương - Thư ký TAND thị xã Quế Võ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 163/2025/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 15 ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hồng H, sinh năm 1986
- HKTT: Khu phố N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
- Tạm trú: 748, tầng 7, sảnh C, Chung Cư K, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Hiện trú tại: Khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt)
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1984
- HKTT: Khu phố N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
- Tạm trú: 748, tầng 7, sảnh C, Chung Cư K, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai gửi Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng H trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Nguyễn Duy T được hai gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào tháng 5/2006. Trước khi cưới, anh chị được tự nguyện tìm hiểu và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q (nay là thị xã Q) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, anh chị về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến đời sống hôn nhân không hòa hợp và hạnh phúc. Khi anh T có kinh tế đã thay đổi bản thân, sống thiếu trách nhiệm với gia đình và có quan hệ bất chính với người khác. Anh T chơi bời và dẫn đến nợ nần. Ngoài ra, anh T nhiều lần đánh chửi chị. Lần gần đây nhất là ngày 23/02/2025, anh T có hành vi đánh chị, dùng tay bóp cổ, túm tóc chị đập xuống sàn nhà trước sự chứng kiến của hai con chung. Mặc dù được can ngăn nhưng anh T không có ý thức dừng lại. Sau buổi tối hôm đó, chị đã phải đến bệnh viện kiểm tra và điều trị 01 tuần. Sau khi ra viện, chị đã về nhà đẻ sinh sống cho đến nay. Nay chị nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng rơi vào bế tắc và không thể tiếp tục cùng nhau chung sống nên chị giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Duy T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh được 02 con chung là Nguyễn Bùi Khánh L, sinh ngày 27/8/2007 và Nguyễn Duy Tùng A, sinh ngày 30/3/2015. Khi vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung và không đề nghị anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về điều kiện nuôi con: Chị xác định chị có công việc khá ổn định và làm nhiều công việc khác nhau như mở hiệu thuốc, bán vé máy bay, làm ở phòng tiêm buổi tối... Tổng thu nhập của chị dao động từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ/1 tháng; Về thể chất và tinh thần: chị xác định là người hoàn toàn bình thường, sống có trách nhiệm và thương yêu các con còn bản thân anh T mặc dù là giáo viên nhưng thích rượu chè, tụ tập bạn bè, không thường xuyên quan tâm đến con cái. Hơn nữa, lại có tính phũ vu, hay chửi bới, đánh đập vợ nên trong thời gian qua đã làm ảnh hưởng tâm lý các con chung rất nặng nề.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Duy T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị Hồng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có hôn nhân hợp pháp vào năm 2006. Trong thời gian chung sống cùng nhau, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến đời sống hôn nhân không hòa hợp và hạnh phúc, vợ chồng có đánh cãi chửi nhau nhiều lần và anh xác nhận có đánh, túm tóc và đập đầu chị H xuống sàn nhà. Anh đánh chị H nhiều lần do nguyên nhân chị H có quan hệ bất chính với người khác. Hiện tại vợ chồng anh đang sống ly thân và không còn khả năng đoàn tụ nên chị H làm đơn ly hôn, anh hoàn toàn đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có sinh được 02 con chung là Nguyễn Bùi Khánh L, sinh ngày 27/8/2007 và Nguyễn Duy Tùng A, sinh ngày 30/3/2015. Hiện tại các con chung đang ở với anh. Khi ly hôn, anh đề nghị được giao mỗi người nuôi một cháu. Anh xin nuôi dưỡng cháu Tùng A và giao cháu Khánh L cho chị H nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không ký vào biên bản. Tại phiên tòa hôm nay, chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin được ly hôn và nuôi dưỡng con chung. Anh T nhất trí thuận tình ly hôn nhưng không đồng ý giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng.
Đại diện VKSND thị xã Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.
Nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147, 186, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51, 55, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị xử:
Về quan hệ vợ chồng: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Hồng H và anh Nguyễn Duy T.
Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Bùi Khánh L, sinh ngày 27/8/2007 và Nguyễn Duy Tùng A, sinh ngày 30/3/2015 cho chị Bùi Thị Hồng H nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị Hồng H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về nội dung: Chị Bùi Thị Hồng H và anh Nguyễn Duy T được tự nguyện tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 2006, được UBND xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/5/2006, việc kết hôn đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Anh, chị chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Tại phiên tòa, anh T xác nhận lời trình bày của chị H là đúng vì anh có chơi bời, có còn nợ nần và trong quá trình chung sống anh có đánh chị H nhiều lần và lần gần đây nhất vào ngày 23/02/2025, anh T có hành vi đánh chị H dẫn đến việc chị H phải đi điều trị 01 tuần tại Trung tâm y tế thị xã Q. Sau đó, chị về nhà đẻ ở từ đó cho đến nay. Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn và anh T xác nhận mâu thuẫn vợ chồng là có thật trên thực tế, hiện vợ chồng sống ly thân và không còn khả năng đoàn tụ nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.
Xét việc thuận tình ly hôn giữa chi H và anh T là hoàn toàn phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về con chung: Anh T và chị H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh được 02 con chung là Nguyễn Bùi Khánh L, sinh ngày 27/8/2007 và cháu Nguyễn Duy Tùng A, sinh ngày 30/3/2015. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung còn anh T xin nuôi dưỡng cháu Tùng A. Cấp dưỡng nuôi con cả hai bên đều không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Xét về điều kiện nuôi dưỡng con chung:
Về điều kiện kinh tế: Hiện chị H và anh T đều có công việc và thu nhập ổn định.
Về điều kiện chăm sóc về sức khỏe và tinh thần: Quá trình giải quyết vụ án nhận thấy, trong thời gian chung sống cùng nhau vợ chồng anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và anh T có nhiều lần có hành vi đánh chửi chị H trước mặt các con chung ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu vì anh có xu hướng bạo lực gia đình. Anh chính là nguyên nhân để gia đình không hòa thuận, hạnh phúc. Mặc dù là giáo viên nhưng anh đã không kìm chế được cảm xúc khi nóng giận, không có biện pháp xử lý tích cực gây tâm lý áp lực cho cuộc sống gia đình và đặc biệt là tâm lý của các con chung.
Về việc quan tâm, chăm sóc con chung: Tại phiên tòa, chị H trình bày, trong quá trình chung sống, anh T là người thiếu trách nhiệm, thu nhập hàng tháng anh không đưa cho chị để chi tiêu sinh hoạt chung cho gia đình. Hiện nay, mặc dù vợ chồng đã sống ly thân nhưng hàng ngày trưa chị vẫn đón con về nhà chị để lo lắng, chăm sóc các cháu, chiều các cháu đi học. Tại phiên tòa, anh T cũng xác nhận anh không đưa tiền cho chị H mà chỉ khi nào chị H bảo thì anh mới đưa và trong cuộc sống hàng ngày thì chị H là người chăm sóc con chu đáo, tận tâm hơn anh.
Về nguyện vọng của các con chung: Quá trình giải quyết, cả hai con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Bùi Thị Hồng H vì các cháu trình bày mẹ luôn là người quan tâm, chăm sóc tốt cho con chung và giữ cho các cháu ổn định về mặt tinh thần để các cháu có thể phát triển toàn diện tốt nhất.
Về điều kiện chăm sóc sau ly hôn: Hiện chị H đang sống cùng bố mẹ đẻ ở khu phố B, phường P, thị xã Q. Bố chị có đơn trình bày thể hiện bố mẹ chị đều là công chức về hưu có điều kiện về kinh tế và thời gian chăm sóc, hỗ trợ chị H trong việc chăm sóc, dậy dỗ các cháu giúp chị H khi chị bận. Còn anh T hiện là giáo viên với mức lương hàng tháng khoảng 11.000.000đ và theo anh trình bày, hiện anh còn nợ khoảng 200.000.000đ. Hơn nữa, anh đang ở một mình, đi làm xa. Do vậy, xét về điều kiện chăm sóc và điều kiện kinh tế thì giao con chung cho chị H sẽ đảm bảo về điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng hơn so với anh T.
Từ nhận định trên, nhận thấy để bảo đảm về điều kiện chăm sóc về cả vật chất và tinh thần cũng như môi trường sống lành mạnh cho các con chung, xét chị H có đủ điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng nên cần giao hai con chung là cháu Nguyễn Bùi Khánh L và cháu Nguyễn Duy T Anh cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp.
Cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật và không ai được cản trở anh T thực hiện được quyền này.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Các đương sự đều không đề nghị Tòa án giải quyết.
Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51,55, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ vợ chồng:
Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Hồng H và anh Nguyễn Duy T.
Về con chung:
Giao con chung là Nguyễn Bùi Khánh L, sinh ngày 27/8/2007 và cháu Nguyễn Duy Tùng A, sinh ngày 30/3/2015 cho chị Bùi Thị Hồng H nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi có sự thay đổi mới. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, công nợ, công sức:
Không đề cập giải quyết.
Án phí:
Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số 0003279 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |
5
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Hồng H - Nguyễn Duy T - ly hôn
