TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2025
V/v Ly hôn giữa chị
Thảo và anh Hoàng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Bình
- Bà Phạm Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30-5-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 26-02-2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14-5-2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Bùi Quốc H, sinh năm 1994.
Đăng ký HKTT: thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Hiện đang chấp hành án tại: P, Trại giam V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
(chị T, anh H đều xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị kết hôn với anh H là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H vào ngày 09-4-2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, hơn nữa do anh H chơi bời, không chịu làm ăn, nghiện ngập, đánh đập vợ con và đi chấp hành án nhiều lần, chị không khắc phục được. Cuối năm 2022 chị đã đưa con về quê ngoại sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Bùi Gia B, sinh ngày 12/02/2016; Bùi Văn C, sinh ngày 14/01/2018 và Bùi Minh T1, sinh ngày 10/6/2022. Hiện nay anh H đang chấp hành án tại phân trại số D, Trại giam V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi ly hôn chị xin nuôi 03 con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Bùi Quốc H trình bày: Về điều kiện, thời gian, địa điểm kết hôn như chị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, do anh vi phạm pháp luật đang phải chấp hành án phạt tù. vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Nay chị T xin ly hôn anh, anh nhất trí. Đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị T được ly hôn. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Bùi Gia B, sinh ngày 12/02/2016, Bùi Văn C, sinh ngày 14/01/2018 và Bùi Minh T1, sinh ngày 10/6/2022. Hiện nay anh đang chấp hành tù anh đồng ý nhường chị T nuôi 03 con, chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, anh cũng đồng ý. Về tài sản chung: không có, anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay anh đang thi hành án tại phân trại số D, Trại giam V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nên anh không thể về Tòa án được, anh đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt anh.
Lời khai của cháu B và cháu C đều trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn nguyện vọng của các cháu là được ở với mẹ T.
Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ly hôn giữa chị T và anh H; về nuôi con chung: giao cháu B, cháu C và cháu T1 cho chị T nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: chị T, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh H, trú tại thôn K, xã T, huyện H; Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Chị T, anh H, đều có đơn xin xử vắng mặt, do vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị T, anh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H vào ngày 09/4/2016, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, do anh H phạm tội, hiện nay đang thi hành án tại trại giam V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Chị T, anh H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn. Hội đồng xét xử, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy cần xử cho ly hôn giữa chị T và anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về nuôi con chung: chị T, anh H có 03 con chung là Bùi Gia B, sinh ngày 12/02/2016, Bùi Văn C, sinh ngày 14/01/2018 và Bùi Minh T1, sinh ngày 10/6/2022. Hiện nay anh H đang chấp hành tù anh H đồng ý để chị T trực tiếp nuôi 03 con, chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, anh cũng đồng ý. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị T, anh H phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị T, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Quốc H.
- Về nuôi con chung: Giao 03 con chung là Bùi Gia B, sinh ngày 12/02/2016, Bùi Văn C, sinh ngày 14/01/2018 và Bùi Minh T1, sinh ngày 10/6/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000614 ngày 26-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị T đã nộp đủ tiền án phí).
- Về quyền kháng cáo: Chị T, anh H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị T và anh H
