|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mến
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Lê Thị Hồng Trinh.
- 2. Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Quốc Trạng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 481/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐXXST-DS ngày 22/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QÐST-DS ngày 08/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị C - sinh năm 1987.
Cư trú tại: Thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Ông Đinh Duy D - sinh năm 1986.
Cư trú tại: Thôn C, xã A, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
(Tại phiên tòa, bà C có đơn xin xét xử vắng mặt, ông D vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị C trình bày:
Bà và ông Đinh Duy D sau một thời gian tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã N (nay là xã A), thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/11/2008.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con là cháu Đinh Võ Duy L, sinh ngày 22/6/2008 và cháu Đinh Thị Ánh N, sinh ngày 28/02/2012. Trong quá trình chung sống, bà và ông D nảy sinh mâu thuẫn, cải vả, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, phần ai nấy sống, ông D thiếu trách nhiệm, thường xuyên đánh bạc, không có đóng góp kinh tế để cùng bà nuôi dạy các con, không quan tâm đến vợ con. Từ tháng 06/2024 đến nay bà và ông D sống ly thân, cháu N đang sống cùng bà, ông D cũng không hề liên hệ, hỏi thăm hay chu cấp nuôi con. Bà thấy rằng mâu thuẫn giữa bà và ông D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết những việc sau:
- - Bà yêu cầu được ly hôn ông Đinh Duy D.
- - Về con chung: Bà và ông Đinh Duy D có 02 con chung là cháu Đinh Võ Duy L, sinh ngày 22/6/2008 và cháu Đinh Thị Ánh N, sinh ngày 28/02/2012. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, giao cháu L cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về nợ chung: Không có.
Bị đơn là ông Đinh Duy D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng cho ông D theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông D không có văn bản trình bày và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của bà C.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị C, bà C được ly hôn ông Đinh Duy D, giao cháu Đinh Thị Ánh N, sinh ngày 28/02/2012 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo cháu Đinh Võ Duy L, sinh ngày 22/6/2008 ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Võ Thị C, ông Đinh Duy D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Bà C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của bà Võ Thị C xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là ông Đinh Duy D có địa chỉ tại xã A, thành phố Q nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa, bà Võ Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Đinh Duy D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Võ Thị C và ông Đinh Duy D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn, được UBND xã N (nay là xã A), thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/11/2008, nên hôn nhân của bà C và ông D là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, bà và ông D nảy sinh mâu thuẫn, cải vả, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, phần ai nấy sống, ông D thiếu trách nhiệm, thường xuyên đánh bạc, không có đóng góp kinh tế để cùng bà nuôi dạy các con, không quan tâm đến vợ con. Từ tháng 06/2024 đến nay bà và ông D sống ly thân, ông D cũng không hề liên hệ, hỏi thăm. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông D ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Võ Thị C được ly hôn với ông Đinh Duy D là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Theo bà C trình bày thì bà và ông D có 02 con chung là cháu Đinh Võ Duy L, sinh ngày 22/6/2008 và cháu Đinh Thị Ánh N, sinh ngày 28/02/2012. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, giao cháu L cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Theo nguyện vọng của cháu Đinh Võ Duy L, khi bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với bố là ông D. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Đinh Thị Ánh N cho bà C và giao cháu Đinh Võ Duy L cho ông D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Võ Thị C không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử không xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà C trình bày không có, ông D không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
[4] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị C.
- Về hôn nhân: Bà Võ Thị C được ly hôn ông Đinh Duy D.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Đinh Thị Ánh N, sinh ngày 28/02/2012 cho bà Võ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đinh Võ Duy L, sinh ngày 22/6/2008 cho ông Đinh Duy D trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Võ Thị C, ông Đinh Duy D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà C trình bày không có, ông D không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Võ Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003800 ngày 06/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Bà Võ Thị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Mến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nguyễn Mạnh Hùng |
Nguyễn Thị Song Trà |
Đỗ Quang Hải |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị C được ly hôn ông Đinh Duy D
