|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH -------- TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Hợi, bà Nguyễn Thị Liên
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Minh P, sinh năm 1985; có mặt
Trú tại: Số B C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986; vắng mặt
Trú tại: Khu T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Minh P trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Q có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng kí kết hôn vào ngày 20/11/2013 tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình chị P tại số B, phố C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận được khoảng 04 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q không quan tâm đến gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi không liên lạc được, đồng thời phát sinh các khoản nợ khiến cuộc sống của hai vợ chồng không hạnh phúc. Vào khoảng năm 2022, hai vợ chồng anh chị ly thân, anh Q dọn ra ngoài thuê nhà ở, sau một thời gian thì chuyển về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại khu T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cho tới thời điểm hiện tại. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là các cháu Nguyễn Hà C, sinh ngày 06/9/2014 và Nguyễn Gia L, sinh ngày 04/9/2017. Hiện nay cả hai con đang ở cùng chị P. Khi ly hôn, chị P đề nghị được nuôi cả hai con chung. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị đề nghị anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản và công nợ chung: Không có và không đề nghị Toà án giải quyết.
Về án phí: Chị P tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Theo bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày:
Anh và chị Nguyễn Minh P đăng ký kết hôn ngày 20/11/2013 tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn hai vợ chồng được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình chị P tại số B, phố C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, vui vẻ được khoảng 04 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong quan điểm sống. Hiện nay, hai vợ chồng anh đã sống ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Minh P.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là các cháu Nguyễn Hà C, sinh ngày 06/9/2014 và cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 04/9/2017. Hiện nay hai con đang ở cùng với chị P. Khi ly hôn, anh đồng ý giao hai con chung cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q đồng ý sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản và công nợ: Không có và không đề nghị Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ gồm:
- - Sổ hộ khẩu của chị Nguyễn Minh P;
- - Đơn lựa chọn TAND thành phố Bắc Ninh giải quyết thủ tục ly hôn của chị Nguyễn Minh P và anh Nguyễn Văn Q.
Tại Biên bản công khai chứng cứ và hòa giải ngày 12/8/2024 và tại phiên tòa, chị Nguyễn Minh P giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.
Theo biên bản làm việc với Toà án, ông Nguyễn Bích N là bố đẻ của anh Nguyễn Văn Q cho biết:
Ông có được nghe về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng anh Q, chị P vài năm trước, tuy nhiên ông không hỏi nguyên nhân. Ông xác nhận anh Q thường xuyên về nhà ở một thời gian sau đó lại đi, nhưng không về cùng chị P, ông N không có ý kiến gì về việc ly hôn giữa hai vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu quan điểm tại phiên toà:
Về tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập đúng quy định nhưng không có mặt đầy đủ, cần chấp hành hơn.
Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Minh P, chị P được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- - Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà C, sinh ngày 06/9/2014 và Nguyễn Gia L, sinh ngày 04/9/2017. Đề nghị giao cả hai cháu cho chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Anh Q có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Minh P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà:
[1] Về tố tụng:
- - Tranh chấp giữa hai đương sự là Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Nguyên đơn là chị Nguyễn Minh P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn Q. Anh Q có hộ khẩu thường trú tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tại giai đoạn thụ lý, các đương sự đã có đơn lựa chọn TAND thành phố Bắc Ninh giải quyết thủ tục ly hôn. Do vậy, xác định quan hệ tranh chấp là “hôn nhân và gia đình”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Bị đơn anh Nguyễn Văn Q đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lí do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- - Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng các đương sự không hoà giải được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Minh P và anh Nguyễn Văn Q đăng kí kết hôn từ ngày 20/11/2013 tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn, chị P, anh Q đã tự nguyện tìm hiểu và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hợp nhau, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay, vợ chồng chị P đã quyết định sống ly thân, chị P cùng các con chuyển về sống tại địa chỉ: Số B, C, khu phố M, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh còn anh Q vẫn ở tại địa chỉ cũ. Tại phiên tòa, chị P giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, anh Q vắng mặt. Trong Biên bản lấy lời khai và các Biên bản làm việc với Tòa án, anh Q đồng ý ly hôn với chị P. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh Q đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần xử cho chị P được ly hôn anh Q là phù hợp.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là các cháu Nguyễn Hà C, sinh ngày 06/9/2014 và Nguyễn Gia L, sinh ngày 04/9/2017. Hiện nay cả hai con đang ở cùng chị P. Tại các Biên bản lấy lời khai, bản tự khai, các đương sự đều thống nhất giao cả hai con chung cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hàng tháng anh Q có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Do đó, xét thấy yêu cầu của chị P là có căn cứ, phù hợp với quy định nên cần ghi nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Bích N là bố đẻ của anh Q cho biết không nắm được nguyên nhân vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, gia đình không rõ về nơi ở cố định và công việc của anh Q, hàng tuần ông chỉ gặp anh Q 1-2 lần khi anh về sinh sống tại nhà bố mẹ. Do vậy, ông không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.
Về tài sản, công nợ: Chị P và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Minh P tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật, cần xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 58, 59, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Minh P. Chị Nguyễn Minh P được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
- Giao con chung là cháu Nguyễn Hà C, sinh ngày 06/9/2014 và cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 04/9/2017 cho chị Nguyễn Minh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng kể từ ngày xét xử cho đến khi các cháu trưởng thành (Đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị P và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Minh P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0000742 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Minh Trang |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Quang Hợi |
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Liên |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Vũ Minh Trang |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp con chung
