Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26/11/2025

V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Phán;
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Vần, bà Nguyễn Thị Hiên;
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trịnh Hoàng Phương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/11/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1987.

    HKTT: thôn Đ, phường V, thành phố Hải Phòng.

    Nơi cư trú: số B, đường N, quận N, thành phố Đ, Đài Loan. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

    Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: chị Đoàn Thị Kiều T, sinh năm 1990 – Luật sư công ty L, Đoàn luật sư thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T1, sinh năm 1985.

    Địa chỉ: thôn Đ, phường V, thành phố Hải Phòng. Xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị và anh Nguyễn Chí T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã C, huyện C cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/8/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vợ chồng chung hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, nuôi dạy con cái và làm ăn kinh tế. Chị đã đi làm việc tại Đài Loan từ năm 2015. Vợ chồng sống ly thân nhiều năm, không còn dành tình cảm cho nhau. Gia đình hai bên, đã nhiều lần hòa giải, song tình cảm vợ chồng không có gì thay đổi mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Về con chung: Chị C xác định chị và anh T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 31/8/2006 và cháu Nguyễn Chí C1, sinh ngày 07/8/2010. Cháu K đã trưởng thành nên không đề nghị Toà án giải quyết; Chị đề nghị giao cháu C1 cho anh T1 nuôi dưỡng và tự nguyện đóng góp nuôi con chung là 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu C1 tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, vay nợ: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Chí T1 trình bày: Anh và chị C tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới như chị C trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống với nhau một thời gian, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không hợp nhau tình cảm vợ chồng không còn. Sau đó, chị C đi nước ngoài, vợ chồng ly thân từ đó không liên lạc với nhau, nay chị C xin ly hôn anh đồng ý vì nay mỗi người đã có cuộc sống riêng, tình cảm không hàn gắn được. Anh xin vắng mặt tại các các phiên Toà. Về con chung đề nghị giao cháu Nguyễn Chí C1, sinh ngày 07/10/2010 cho anh tiếp tục nuôi dưỡng, anh có thu nhập và nhà ở tốt, không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 31/8/2006, cháu đã trên 18 tuổi nên không đề nghị Toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét công bố các lời khai, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án; đề nghị Viện kiểm sát Khu vực 12-Hải Phòng phát biểu quan điểm về tố tụng và hướng giải quyết vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về hướng giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C ly hôn anh Nguyễn Chí T1.
  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí C1, sinh ngày 07/8/2010 cho anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T1 không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  • - Về án phí: Chị C phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đây là vụ án Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại thôn Đ, phường V, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng, theo quy định tại Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Bị đơn, nguyên đơn đều xin xét xử vắng mặt; Căn cứ điểm b khoản khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử theo thủ tục chung.

[3]. Quan hệ về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C kết hôn với anh Nguyễn Chí T1 là tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp. Trong thời gian vợ chồng chung sống anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh chị cùng hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc nên chị đi nước ngoài lao động, ly thân với anh từ năm 2014, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế; mặc dù chị C nhiều lần về Việt Nam nhưng cũng không về với bố con anh T1. Như vậy, xác định hôn nhân giữa chị C và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị C ly hôn anh T1 là phù hợp với khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Về con chung: Chị C và anh T1 có hai con chung là cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 31/8/2006 đã trên 18 tuổi nên Toà án không xem xét; cháu Nguyễn Chí C1, sinh ngày 07/8/2010 hiện đang ở với anh T1. Anh T1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu C1 và tự nguyện không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con; chị C đồng ý để anh T1 nuôi cháu C1 và tự nguyện đóng góp nuôi con 2.000.000/tháng; anh T1 có công việc và thu nhập ổn định (khoảng 15 triệu đồng/tháng), có nhà ở. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển của cháu C1. Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Chí C1 cho anh T1 tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại các Điều 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị C góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng.

[5]. Về tài sản chung, vay nợ: Chị C, anh T1 không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án, chị C phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  • - Quan hệ về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C ly hôn anh Nguyễn Chí T1.
  • - Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Chí T1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Chí C1, sinh ngày 07/8/2010 đến khi cháu C1 trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của chị C cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng, đến khi cháu C1 đủ 18 tuổi.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • - Về tài sản: Chị C, anh T1 không yêu cầu nên không giải quyết.
  • - Án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E số: 0003680 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Áp dụng khoản 1 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự chị C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; Anh T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 12 – Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND phường Việt Hoà, tp Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP Tòa án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thiện Phán

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Chiều Nguyễn Chí Thịnh - Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger