|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày 26 - 5 - 2025 “V/v Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Kim Loan và Bà Trịnh Thị Huệ;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 174/2024/ TLST – HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Phạm Thị H, sinh năm 1974; nơi thường trú: tổ C, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: anh Trần Văn Đ, sinh năm 1965; nơi thường trú: tổ C, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2024, lời tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị H đều trình bày: chị và anh Trần Văn Đ về chung sống với nhau từ năm 2000 cho đến khi sinh con đầu lòng, con đi học đến năm 2014 thì anh chị mới đi đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường C, thành phố C trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Anh chị về chung sống với nhau ở tổ C, khu Đ, phường C, thành phố C, cuộc sống chung hạnh phúc cho đến năm 2006 thì đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ thường xuyên chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị cũng khuyên bảo nhiều nhưng anh Đ không thay đổi, kinh tế trong gia đình đều do một mình chị gánh vác, việc chăm sóc dạy dỗ các con anh Đ cũng bỏ mặc, không quan tâm, đến năm 2015 do nợ nần nhiều anh Đ đã bỏ nhà đi. Vì cuộc sống khó khăn nên chị cũng không tìm kiếm anh Đ, chị không quan tâm anh Đ ở đâu, anh Đ cũng không liên lạc về gia đình, không hỏi thăm các con. Năm 2017 khi bố đẻ chị mất anh Đ có về vài ngày, hai vợ chồng gặp nhau nhưng không hỏi han, không nói chuyện rồi anh Đ lại bỏ đi cho đến năm 2018 thì anh chị gặp nhau để làm thủ tục bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác rồi anh Đ lại tiếp tục bỏ đi cho đến năm 2022 thì chị được biết anh Đ bị bắt, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đưa ra xét xử về tội “đánh bạc”, bị xử phạt mức án 21 tháng tù giam. Sau khi chấp hành án xong anh Đ cũng không quay về chung sống với chị và các con mà về quê ở thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình sinh sống cùng với gia đình nhà nội. Anh chị sống ly thân nhau nhiều năm nên gia đình hai bên không can thiệp, hòa giải cho vợ chồng chị, đến nay anh chị không còn tình cảm dành cho nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đ để ổn định cuộc sống.
+ Về con chung: chị và anh Trần Văn Đ có 02 con chung là Trần Ngọc Phương L, sinh ngày 18/9/2000 và Trần Duy Đ1, sinh ngày 02/01/2004, cả hai con chung đều đã thành niên và hoàn toàn khỏe mạnh nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
+ Về tài sản và công nợ chung: không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh Trần Văn Đ không đến để tham gia tố tụng nên không có quan điểm gì về việc ly hôn, nuôi con, tài sản và công nợ chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị H, chị H được ly hôn với anh Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Phạm Thị H yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Văn Đ hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn – anh Trần Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã tống đạt hợp lệ nhưng anh Đ cố tình không tham gia tố tụng theo quy định và cũng không có người đại diện tham gia tại phiên tòa, nguyên đơn – chị Phạm Thị H có đơn xin vắng mặt tại phiên toà nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Trần Văn Đ là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C vào năm 2014, anh chị kết hôn sau khi về chung sống với nhau từ năm 2000 và trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn anh chị về sống tại tổ C, khu Đ, phường C, thành phố C. Cuộc sống chung theo chị H trình bày thì từ năm 2006 thì đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ thường xuyên chơi bời cờ bạc, ảnh hưởng đến kinh tế trong gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, do nợ nần nên anh Đ bỏ nhà đi không còn quan tâm đến gia đình và các con. Sau khi ly thân nhau đến năm 2022 thì anh Đ bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử về tội “đánh bạc” với mức án 21 tháng tù giam, chấp hành xong bản án anh Đ cũng không về chung sống với chị và các con, không tìm biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn. Bản thân anh Đ khi được triệu tập hợp lệ trên các phương tiện thông tin đại chúng để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Đ nhưng cũng không đến Tòa án để tham gia tố tụng, chứng tỏ anh Đ cũng không thiện chí hoặc trách nhiệm trong việc giải quyết mâu thuẫn, không có biện pháp tích cực để vợ chồng về đoàn tụ nên chị H xin ly hôn là hoàn toàn có căn cứ. Mâu thuẫn của chị H và anh Đ cũng phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú, thể hiện “chúng tôi được biết anh Đ là người có tính ham mê cờ bạc rất lớn, từ việc cờ bạc mà ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, sau này do nợ nần nhiều nên không dám ở đây mà phải bỏ đi chỗ khác ở......”. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh Đ đúng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
* Về con chung: chị Phạm Thị H và anh Trần Văn Đ có 02 con chung là Trần Ngọc Phương L, sinh ngày 18/9/2000 và Trần Duy Đ1, sinh ngày 02/01/2004, cả hai con chung đều đã thành niên và hoàn toàn khỏe mạnh, chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Về tài sản và công nợ chung: không có.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng khác: chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Về chi phí triệu tập anh Trần Văn Đ trên phương tiện thông tin đại chúng, chị H đã tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; các Điều 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị H, cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H với anh Trần Văn Đ.
- Về án phí: chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp ngày 24/12/2024 theo biên lai số: 0000800 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
- Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho cyhij Phạm Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ
