TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-02-2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Ngọc Lam Điền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Thừa
Bà Nguyễn Thị Huệ
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 305/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Võ Văn N, sinh năm 1981
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày: Bà và ông Võ Văn N do mai mối và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn được UBND xã T, huyện V, TP Cần Thơ (cũ) cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 11, Quyển số 01 vào ngày 10/01/2006.
Trình bày về quá trình chung sống: Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2024 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông N không quan tâm chăm sóc gia đình, quá ghen tuông, hay kiểm soát bà. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông N không thay đổi. Cả hai không còn tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không còn hạnh phúc. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Văn N.
Về con chung: Có 02 con chung là Võ Thành Đ (nam), sinh ngày 09/10/2006 và Võ Thị Ngọc O (nữ) sinh ngày 05/9/2012. Do cháu O đang sống với ông N nên bà thống nhất giao cháu O cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Về cháu Đ đã trưởng thành nên không yêu cầu.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
*Bị đơn ông Võ Văn N trình bày: thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quá trình chung sống, đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung. Ông có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: ông không đồng ý ly hôn với bà H do vẫn còn tình cảm với vợ và muốn hàn gắn gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung là Võ Thành Đ (nam), sinh ngày 09/10/2006 và Võ Thị Ngọc O (nữ) sinh ngày 05/9/2012. Do cháu O đang sống với ông nên trường hợp ly hôn thì ông thống nhất trực tiếp nuôi dưỡng cháu O, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về cháu Đ đã trưởng thành nên không yêu cầu.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn bà Hồ Thị H vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày. Về hôn nhân yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn N, đồng ý giao con chung là Võ Thị Ngọc O cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Về cháu Võ Thành Đ đã trưởng thành nên không yêu cầu. Nợ chung tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Văn N trình bày: Ông xin đoàn tụ gia đình, không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với vợ và muốn hàn gắn gia đình. Xác định con chung có hai con, trường hợp nếu phải ly hôn thì ông thống nhất sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là con chung là Võ Thị Ngọc O. Về cháu Võ Thành Đ đã trưởng thành nên không yêu cầu. Về nợ chung tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn giữa công dân với công dân; bà Hồ Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung với ông Võ Văn N, nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Quan hệ tranh chấp này thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, Thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Do vụ kiện Tòa án không có thực hiện thủ tục thu thập chứng cứ, chứng cứ do đương sự cung cấp nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ không phải tham gia phiên tòa theo Khoản 2 điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét tính hợp pháp: Giữa bà Hồ Thị H và ông Võ Văn N tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01, cấp ngày 10/01/2006. Nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[4] Xét về chứng cứ và nội dung giải quyết vụ kiện: Nguyên đơn trình bày nguyên đơn và bị đơn đã có thời gian dài chung sống vợ chồng với nhau, đồng thời giữa nguyên đơn và bị đơn cũng có nhiều mâu thuẫn kéo dài, do bất đồng quan điểm sống, không tìm được biện pháp nào để hàn gắn, cả hai đã sống ly thân nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn như lúc đầu, không thể chung sống với bị đơn được nữa nên yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử xét: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình phải có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn đã không còn sự tin yêu, quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, về cách đối xử vợ chồng trong cuộc sống hàng ngày không hòa hợp. Tại phiên tòa bị đơn trình bày xin đoàn tụ, không muốn ly hôn, còn thương vợ và các con. Nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn để nguyên đơn chấp nhận mà chỉ trình bày lý lẽ đúng sai, không có ý kiến nào để nguyên đơn chấp nhận đoàn tụ. Hơn nữa trước đây bà H đã từng nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với ông N vào tháng 11 năm 2023 nhưng sau đó bà rút đơn vì muốn cho ông N cơ hội để sửa đổi tính tình và hàn gắn lại gia đình nhưng ông N vẫn không thay đổi. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông - bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại được hạnh phúc cho cả hai, nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014); nguyên đơn bà Hồ Thị H yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Võ Văn N là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về con chung: Các đương sự trình bày có hai con chung tên Võ Thành Đ (nam), sinh ngày 09/10/2006 và Võ Thị Ngọc O (nữ) sinh ngày 05/9/2012. Đối với cháu Đ đã trưởng thành nên các bên không yêu cầu. Bà Hồ Thị H có ý kiến giao con chung cháu O cho ông N nuôi dưỡng; Mặt khác, cháu O trước giờ cũng đang sống cùng với ông N, để tránh việc thay đổi môi trường sống đột ngột của cháu O, xem xét ý kiến nguyện vọng của cháu O muốn sống cùng với cha, và ông Võ Văn N cũng thống nhất trực tiếp nuôi dưỡng cháu O. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung giao nên giao cháu O cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Hội đồng xét xử đã giải thích pháp luật về quyền của trẻ em được pháp luật bảo vệ. Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà H. Không ai được quyền ngăn cản bà H thực hiện quyền này.
[6] Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong trường hợp có tranh chấp và có đơn yêu cầu, Tòa án tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
[7] Xét, lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên chấp nhận. Lời trình bày của bị đơn chưa có căn cứ chấp nhận.
[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ áp dụng:
- Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 174; Điều 175; Điều 179; Điều 238; Điều 266; Điều 267; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, 56, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014);
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T (Quy định về án phí, lệ phí Tòa án),
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Hồ Thị H với ông Võ Văn N như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị H được ly hôn với ông Võ Văn N.
- Về con chung: Giao con chung tên Võ Thị Ngọc O (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 05/9/2012 cho ông Võ Văn N trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung tên Võ Thành Đ (Giới tính: Nam) sinh ngày 09/10/2006 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Hồ Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà H. Không ai có quyền ngăn cản bà H thực hiện quyền này.
Về tài sản chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp có tranh chấp và có đơn yêu cầu sẽ được tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí:
- Nguyên đơn bà Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu 0008442, ngày 24/12/2024 thành án phí. Nguyên đơn đã nộp xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/02/2025) các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ kiện theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Lam Điền |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
