Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25 tháng 6 năm 2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở và bà Triệu Thị Hai.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa:

Nguyên đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1981;

Địa chỉ: xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

(Đề nghị xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T: Bà Nguyễn Thị Bích T1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có mặt).

Bị đơn: Chị Ngọc Thị H, sinh năm 1982; (Vắng mặt)

Địa chỉ: xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H: bà Đinh Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2025 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đinh Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn T và chị Ngọc Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ vào ngày 12/4/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay anh đang đi làm ăn xa nên vợ chồng sống ly thân nhau. Nay xét tình cảm không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên anh T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ngọc Thị H.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh T, chị H có 01 con chung là cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày 03/02/2007. Tuy nhiên do bệnh nặng nên cháu T2 đã mất ngày 28/8/2022. Nay vợ chồng anh không có con chung nên anh không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Về con riêng: Trước khi vợ chồng anh kết hôn, chị H đã có 01 con riêng là cháu Ngọc Thị K, sinh năm 2004. Nay cháu K đã thành niên nên anh không có đề nghị gì.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh Đinh Văn T không đề nghị Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía Bị đơn chị Ngọc Thị H: Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng chị H đều vắng mặt. Để giải quyết vụ án, ngày 11/4/2025 Tòa án đã đến xóm C, xã T để tiến hành làm việc, lấy lời khai đối với chị Ngọc Thị H.Tuy nhiên chị H sau khi trình bày quan điểm đã không đồng ý ký tên hay điểm chỉ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/4/2025, chị Ngọc Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 12/4/2006. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, tuy nhiên khoảng thời gian gần đây anh T thường xuyên đi làm xa, thỉnh thoảng mới về nhà, vợ chồng không có thời gian quan tâm nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Hiện nay hai anh chị đang sống ly thân nhau. Nay anh T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị, quan điểm của chị H là chị vẫn còn tình cảm nên chị không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh T, chị H có 01 con chung là cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày 03/02/2007.Tuy nhiên do bệnh nặng nên cháu T2 đã mất ngày 28/8/2022. Nay vợ chồng chị không có con chung nên chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Về con riêng: Trước khi vợ chồng kết hôn, chị H đã có 01 con riêng là cháu Ngọc Thị K, sinh năm 2004. Nay cháu K đã thành niên nên chị không có đề nghị gì.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Ngọc Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

[3]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Bích T1:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đinh Văn T đối với chị Ngọc Thị H.

Về con chung: Hiện anh T, chị H không có con chung nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh T, chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[4]. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn – bà Đinh Thị H1: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn nhiều lần vắng mặt không có lý do nên đây là vụ án không tiến hành hòa giải được, do đó Thẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp. Toà án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn, Bị đơn theo đúng khoản 1 Điều 175, khoản 1,2,5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Anh T, chị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T, chị H là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.

Về con chung: Anh T, chị H có 01 con chung là cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày 03/02/2007. Tuy nhiên do bệnh nặng nên cháu T2 đã mất ngày 28/8/2022. Hiện nay vợ chồng anh chị không có con chung nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

Về con riêng: Trước khi kết hôn với anh T, chị H đã có 01 con riêng là cháu Ngọc Thị K, sinh năm 2004. Nay cháu K đã thành niên nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Đối với tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Anh T, chị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự: Anh Đinh Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về trình tự, thủ tục tố tụng: Anh Đinh Văn T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ cho anh được ly hôn với chị Ngọc Thị H, sinh năm 1982, trú tại: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn chị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên đây là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T, chị H theo đúng khoản 1 Điều 175, khoản 1,2,5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị H trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Năm 2006, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, anh T cho rằng từ năm 2022 thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Hiện nay anh và chị H đã chính thức sống ly thân, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị H nên anh xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía chị H không đồng ý ly hôn với anh T vì chị cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn.

Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh T và chị H, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T cũng như tại khu dân cư thấy rằng: Lời trình bày của anh T về tình trạng hôn nhân giữa anh và chị H là hoàn toàn đúng. Đại diện địa phương cũng xác nhận anh T và chị H hiện nay không còn chung sống với nhau, anh T đi làm ăn ít khi về, chị H ở nhà với con riêng.

HĐXX xét thấy: Phía chị H không đồng ý ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng khi Toà án báo đến hoà giải thì chị không đến, bản thân chị cũng không đưa ra được phương án nào để khắc phục tình trạng vợ chồng anh chị hiện tại. Chị H cũng thừa nhận hiện tại vợ chồng anh chị không chung sống cùng nhau nữa. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa anh T, chị H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh T, chị H có 01 con chung là cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày 03/02/2007. Tuy nhiên do bệnh nặng nên cháu T2 đã mất ngày 28/8/2022. Hiện nay vợ chồng anh chị không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4].Về con riêng: Trước khi kết hôn với anh T, chị H đã có 01 con riêng là cháu Ngọc Thị K, sinh năm 2004. Nay cháu K đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp.

[5]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: anh T, chị H đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Anh Đinh Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[7].Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8]. Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đinh Văn T đối với chị Ngọc Thị H. Xử cho anh Đinh Văn T được ly hôn chị Ngọc Thị H.

2.2. Về án phí: Anh Đinh Văn T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0001892 ngày 07/3/2025. Nay được chuyển thành án phí.

2.3. Về quyền kháng cáo: Anh Tam, chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

2.4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Sơn;
  • - UBND xã Tân Lập;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Duyên Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đinh Văn T đối với chị Ngọc Thị H. Xử cho anh Đinh Văn T được ly hôn chị Ngọc Thị H.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger