TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đàm Anh H, sinh năm 1991. HKTT: Khu phố K, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Đinh Thị Huyền M, sinh năm 1991. HKTT: Khu phố K, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Úc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Đàm Anh H trình bày: Anh và chị Đinh Thị H1 M kết hôn hợp pháp với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 01/07/2014 tại UBND xã H, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng sống hạnh phúc cho đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không còn đồng cảm, thấu hiểu, thiếu sự chia sẻ mặc dù đã tìm cách tháo gỡ nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, người nào biết bổn phận của người đó. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đinh Thị Huyền M.
Về con chung: Anh và chị Đinh Thị H1 M có 02 con chung là cháu Đàm Thị Khánh C, sinh ngày 30/10/2014 và cháu Đàm Đinh Anh V, sinh ngày 21/05/2016. Khi ly hôn anh xin nuôi cháu Đàm Đinh Anh V; chị M nuôi cháu Đàm Thị Khánh C cho đến khi các cháu trưởng thành. Vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, công nợ: Không có.
Hiện nay, do công việc bận anh H xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn chị Đinh Thị Huyền M đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của chị M nhiều lần, nhưng chị M không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Đinh Quang Y là bố đẻ của chị M, ông Y trình bày: Ông là bố đẻ của Đinh Thị Huyền M, sinh năm 1991. HKTT: Khu phố K, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Năm 2014, ông có tổ chức đám cưới cho con gái ông với Đàm Anh H. Quá trình chung sống vợ chồng M, H có 02 con chung là cháu Đàm Thị Khánh C, sinh ngày 30/10/2014 và cháu Đàm Đinh Anh V, sinh ngày 21/5/2016.
Con gái ông hiện đang sinh sống và làm việc tại Úc, địa chỉ cụ thể ở Úc của cháu M thì ông không biết, cháu M vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện với ông và gia đình bằng điện thoại. Sau khi được Tòa án thông báo việc thụ lý yêu cầu xin ly hôn của cháu Đàm A Hiến xin ly hôn với con gái ông thì ông đã thông báo cho con gái ông biết và hỏi địa chỉ cụ thể của cháu M ở Úc nhưng cháu M không nói, cháu M nhờ ông nhắn quan điểm của cháu M như sau: “cháu M đồng ý ly hôn với cháu H, về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đàm Thị Khánh C, sinh ngày 30/10/2014 và cháu Đàm Đinh Anh V, sinh ngày 21/5/2016, khi ly hôn đề nghị giao cháu C cho M chăm sóc, giao cháu V cho H chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, công nợ: Không có. Hiện nay cháu M rất bận nên sẽ không gửi văn bản về cho Tòa án. Cháu M đề nghị không tiến hành hòa giải, xin xét xử vắng mặt và có ủy quyền cho ông nhận thay giấy tờ cho cháu M”.
Nay liên quan đến việc ly hôn giữa Đàm Anh H và con gái ông thì ông đồng ý sẽ nhận thay cho cháu M các văn bản tố tụng, bản án và ông cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho cháu M ngay trong ngày nhận được.
Tại phiên toà nguyên đơn là anh H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, xử cho anh Đàm A Hiến được ly hôn chị Đinh Thị Huyền M. Về con chung: đề nghị giao cháu Đàm Đinh Anh V, sinh ngày 21/05/2016 cho anh H, giao cháu Đàm Thị Khánh C, sinh ngày 30/10/2014 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh Đàm A Hiến đề nghị Tòa án xem xét cho anh được ly hôn với chị Đinh Thị Huyền M và đề nghị giao cháu V cho anh nuôi dưỡng, giao cháu C cho chị M nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Đàm Anh H trình bày bị đơn là chị Đinh Thị Huyền M có hộ khẩu thường trú tại khu phố K, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, hiện trú tại: Úc. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn chị Đinh Thị Huyền M trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc, yêu cầu người thân thích cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của chị M nhưng đều không cung cấp mặc dù chị M thường xuyên liên lạc về cho gia đình. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị M có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, theo anh H trình bày thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc cho đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không còn đồng cảm, thấu hiểu, thiếu sự chia sẻ mặc dù đã tìm cách tháo gỡ nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, người nào biết bổn phận của người đó. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh H, chị M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh H là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho anh Đàm A Hiến được ly hôn chị Đinh Thị Huyền M.
[2.2]. Về con chung: Anh H và chị M có 02 con chung là cháu Đàm Đinh Anh V, sinh ngày 21/05/2016 và cháu Đàm Thị Khánh C, sinh ngày 30/10/2014. Hiện nay, cháu C đang ở cùng với bố mẹ đẻ của chị M tại địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; cháu V đang ở với anh H tại địa chỉ: Khu phố K, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Anh H và chị M đều có có nguyện vọng giao cháu V cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu C cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, các cháu cũng có nguyện vọng như trên. Do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết, cần giao cháu V cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giao cháu C cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh Đàm Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đàm Anh H.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đàm Anh H được ly hôn chị Đinh Thị Huyền M.
- Về con chung: Giao cháu Đàm Đinh Anh V, sinh ngày 21/05/2016 cho anh Đàm A Hiến trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; giao cháu Đàm Thị Khánh C, sinh ngày 30/10/2014 cho chị Đinh Thị H1 M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Đàm Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000300 ngày 10/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Đàm Anh H được ly hôn chị Đinh Thị Huyền M
