|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23 /2025/HNGĐ-ST Ngày 23 tháng 6 năm 2025 “Vụ án ly hôn giữa bà Lê Thị T và ông Nguyễn Quốc H” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đào Tuyết Thanh
- Ông Lê Hổ Bình
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai – Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 119/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/4/2025 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 68/2025/QÐST – HNGĐ ngày 16/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1995. CCCD số: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 10/05/2021.
ĐKHKTT tại: Số A T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Số D B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1997. CCCD số: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 10/05/2021.
ĐKHKTT tại: Số A T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Số B ngõ A N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2024, bản tự khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Về tình cảm: Bà và ông Nguyễn Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14/9/2018 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng về ở tại số B ngõ A N, P, H, Hà Nội là nhà của bố mẹ chồng. Quá trình chung sống tại đây, vợ chồng không đóng góp công sức xây dựng sửa chữa gì. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm về lối sống, tính tình cách sống không phù hợp, cả hai không có sự đồng cảm và tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến rạn nứt tình cảm vợ chồng. Vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn từ những việc nhỏ như sinh hoạt hằng ngày đến việc nuôi dạy các con. Ông H thường xuyên đi chơi, tụ tập bạn bè từ tối đến 2-3 giờ sáng mới về. Chiếc xe máy SH đứng tên ông H và xe Vision đứng tên bà, Giấy khai sinh các con, Giấy đăng ký kết hôn, B lái xe ô tô ông H đều mang đi cầm đồ và không lấy lại được, chỉ duy nhất chiếc xe Vision đứng tên bà thì bà đã chuộc về để làm phương tiện đi lại. Tuy sống chung một nhà, nhưng ông H không quan tâm, chăm sóc con cái, không quan tâm đến vợ. Một mình bà chăm sóc, đưa đón các con đi học kể cả khi con ốm đau cũng một mình bà chăm sóc. Bà có nói với ông H về việc này nhưng ông không thay đổi. Do cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải nên vợ chồng đã sống ly thân, bà T cùng các con đã chuyển ra ngoài thuê nhà ở tại số D ngõ B B, C, H, Thành phố Hà Nội từ đầu năm 2024 cho đến nay. Thời gian đầu bà và các con chuyển ra ngoài ở riêng, thi thoảng ông H có qua thăm con, khoảng 01 năm nay ông H không đến thăm các con, cũng không gọi điện hỏi thăm vợ con. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên là Nguyễn Phan A, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 02/8/2022. Hiện hai con chung đang ở với mẹ. Khi ly hôn, bà T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu ông H phải đóng góp tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc H:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho bị đơn ông Nguyễn Quốc H (do bà Nguyễn Thị Tuyết D, sinh năm 1969 là mẹ đẻ ở cùng địa chỉ với ông H nhận). Tuy nhiên, ông H không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ (nếu có), không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.
Tại biên bản làm việc ngày 24/4/2025, bà Nguyễn Thị Tuyết D là mẹ đẻ của ông Nguyễn Quốc H trình bày: Anh H, chị T kết hôn năm 2018 và về chung sống với vợ chồng bà tại B ngõ A N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống thì anh chị không xây dựng sửa chữa, đóng góp gì. Từ khoảng đầu năm 2024, chị T đã đưa hai con ra ngoài thuê nhà ở riêng, cuối tuần có cho hai cháu về chơi với ông bà, những lúc chị T bận bà vẫn đưa đón các cháu đi học. Chị T xin ly hôn anh H thì bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản làm việc ngày 28/5/2025, bà Nguyễn Thị Tuyết D trình bày: Bà đã thông báo cho anh H về việc chị T gửi đơn ly hôn đối với anh và giao các văn bản như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh H nhưng anh H không nói gì, cũng không lên Tòa án để giải quyết. Từ ngày 30/4/2025, anh H có về nhà mấy hôm rồi lại đi làm, thi thoảng về nhà thăm vợ chồng bà rồi lại đi. Bà không biết anh H có liên hệ với vợ con hay không. Hàng ngày bà vẫn hỗ trợ chị T đưa các cháu đi học và đón về những lúc chị T bận. Đối với hai cháu Nguyễn Phan A và Nguyễn Tuệ L, bà đề nghị Tòa án giao hai cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, vợ chồng bà sẽ hỗ trợ chị T chăm sóc các cháu.
[3] Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà và ông H ly hôn để ổn định cuộc sống và giữ nguyên quan điểm về các vấn đề khác. Bà T trình bày hiện bà đang quản lý quán ăn và bán hàng mỹ phẩm, tổng thu nhập hàng tháng khoảng 15 - 20 triệu đồng, có nơi ở ổn định nên có thể đảm bảo điều kiện ăn ở, sinh hoạt của ba mẹ con.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Cụ thể: Toà án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; Thực hiện đúng các thủ tục tố tụng; Việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm, về điều khiển phiên toà; Bị đơn không thực hiện đúng các quy định, các quyền trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xử cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc H; Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 02/8/2022 cho bà T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông H;
Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Không xem xét giải quyết;
Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Quốc H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số A T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội và ông H hiện đang sinh sống tại số B ngõ A N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn ông Nguyễn Quốc H đã được Toà án thông báo, triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
[2] Về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn:
- Về tình cảm: Xét thấy, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Hà Nội ngày 14/9/2018 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do lối sống không phù hợp. Ông H thường xuyên đi chơi, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Cả hai đã sống ly thân với nhau, bà T và hai con đã thuê nhà ở riêng từ đầu năm 2024 đến nay, cả hai không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau nữa.
Xác minh tại địa phương và gia đình, hiện ông Nguyễn Quốc H đang sinh sống tại tại số B ngõ A N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội cùng với bố mẹ đẻ. Vợ chồng ông H bà T đã không cùng chung sống với nhau từ đầu năm 2024 đên nay. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Quốc H. Bà Nguyễn Thị Tuyết D là mẹ đẻ của ông H đã nhận, thông báo và giao văn bản tố tụng cho ông H. Ông H đã biết rõ việc Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án bà T xin lý hôn với ông H, nhưng ông H không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ (nếu có), không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.
Xét thấy, Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định tại Điều 19 về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”.
Xét vợ chồng bà T, ông H đã không còn tình cảm, quan tâm tới nhau, không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2024 đến nay. Điều này cho thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và để tạo điều kiện cho các bên ổn định cuộc sống riêng, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn của bà T đối với ông H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Phan A, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 02/8/2022. Hiện hai cháu đang sống cùng bà T. Tại Toà án, bà T đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung; không yêu cầu ông H phải đóng góp tiền nuôi các con chung.
Theo quy định của pháp luật, việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, đảm bảo việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của con chưa thành niên.
Xét thấy, cả hai cháu Nguyễn Phan A, Nguyễn Tuệ L đều còn nhỏ, hiện đang ăn ở, sinh hoạt ổn định với bà T, ông H cũng không thực sự là người có trách nhiệm với gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Giao 02 con chung cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 6/2025 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi hai con chung. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi hai con chung cho ông H.
- Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nên không yêu cầu, do đó Toà án không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 17, 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Lê Thị T với ông Nguyễn Quốc H.
Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc H.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Nguyễn Phan A, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Tuệ L, sinh ngày 02/8/2022. Giao hai con chung cho bà Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 6/2025 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi hai con chung. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi hai con chung cho ông Nguyễn Quốc H kể từ tháng 6/2025 đến khi có sự thay đổi khác.
Ông Nguyễn Quốc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung; nhà, đất ở; công nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0069420 ngày 18/4/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thắng |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội về ly hôn
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn T-H
