Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:23/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 23/6/2025.

“V/v: ly hôn."

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân.

1.Ông Nguyễn Thành Công.

2.Ông Phạm Văn Ngài.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Nguyễn Quế Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long đưa ra xét xử sơ thẩm bằng hình thức trực tuyến vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 438/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc: “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 68/2025/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, và quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lại Thị Mộng T, sinh năm: 1993(có mặt).
    Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bị đơn: anh Cao Minh Đ, sinh năm 1987 (vắng mặt không lý do).
    Địa chỉ: ấp I, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người hỗ trợ kỷ thuật trực tuyến điểm cầu trung tâm có ông Đinh Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/7/2024, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lại Thị Mộng T trình bày:

Trước đây vào năm 2022 chị với anh Cao Minh Đ do tự tìm hiểu quen biết, sau đó dẫn đến cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 31/10/2022. Trong qúa trình sống chung chị với anh Đ không có con chung, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai người bất đồng quan điểm trong cuộc sống thường xuyên xãy ra cự cải, dẫn đến gia đình không có hạnh phúc nên chị đã sống ly thân từ ngày 10 tháng 05 năm 2024 cho đến nay.

1

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân của chị với anh Đ không có hạnh phúc, không thể sống chung với nhau, nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh Đ, về con chung: không có.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Cao Minh Đ: Vắng mặt không có lý do, nên không có bản tự khai.

Qua biên bản xác minh của ông Cao Văn H là cha ruột của anh Cao Minh Đ sống chung nhà với anh Đ, ông cho biết ông cưới chị Lại Thị Mộng T cho con ông là Cao Minh Đ, sau ngày cưới sống chung với nhau được một thời gian chúng nó không có con chung, về tài sản chung của Đ và T cũng không có, và nợ chung thì không nghe thiếu ai, hiện nay Đ đi làm thuê ở xa không có nhà, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai đứa cự cãi nhau về việc Đ bắt gặp Thuỳ ngoại tình với người đàn ông khác Đ có nói với ông và ông có qua gặp cha mẹ T để nói chuyện hoà giải nhưng cũng không được. Từ đó hai đứa bất đồng quan điểm trong cuộc sống, và đã sống ly thân với nhau từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay, còn việc T xin ly hôn với Đ thì ông cũng thống nhất vì hai đứa không có khả năng hàn gắn đoàn tụ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến trước thời điểm nghị án, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48, Điều 70; 71;72 của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Lại Thị Mộng T đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật, còn bị đơn anh Cao Minh Đ, Toà án có triệu tập nhiều lần, nhưng anh Đ không chấp hành theo giấy triệu của Tòa án, nên không có bản tự khai và không có yêu cầu cụ thể, tại phiên tòa xét xử hôm nay anh Đ vẫn vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 28, Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: các Điều 19;51;53;54;56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lại Thị Mộng T cho chị Lại Thị Mộng T được ly hôn với anh Cao Minh Đ, về con chung: không có, về tài sản chung, và nợ chung: không có, nên không đặt ra giải quyết.

Chị Lại Thị Mộng T phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Chị Lại Thị Mộng T và anh Cao Minh Đ xác lập quan hệ hôn nhân, và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 31 tháng 10 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình sống chung chị Lại Thị Mộng T với anh Cao Minh Đ không có con, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng thường xuyên cự cải nhau là do anh Đ hay ghen tuông, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và hai người đã sống ly thân từ ngày 10 tháng 05 năm 2024 cho đến nay.

[2] Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị Lại Thị Mộng T và anh Cao Minh Đ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ được, nên chị Lại Thị Mộng T làm đơn xin được ly hôn với anh Cao Minh Đ, về con chung: không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đối với anh Cao Minh Đ, Tòa án có triệu tập nhiều lần nhưng anh Đ cố tình vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai cũng như yêu cầu của anh Đ, mặt dù Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, cũng như quyết định hoãn phiên toà của Tòa án cho ông Cao Văn H là cha ruột nhận thay và cam kết đưa tận tay anh Đ. Do anh Đ cố tình vắng mặt xem như anh từ bỏ quyền lợi của anh tại phiên tòa.

[4]Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định, thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng ở đây hai người mới sống với nhau chưa có con chung, nhưng dẫn đến nhiều chuyện cải vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Từ đó chị T quyết định xin ly hôn với anh Đ. Và qua xác minh người thân của anh Đ thì vợ chồng anh Đ không có tạo ra tài sản chung, và cũng không có thiếu nợ chung ai, hai người đã sống ly thân nhau từ tháng 05 năm 2024 cho đến nay, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ.

Từ các cơ sở phân tích trên, thấy rằng mục đích hôn nhân của chị Lại Thị Mộng T với anh Cao Minh Đ không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ hai người đã sống ly thân nhau từ tháng 05 năm 2025 đến nay. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy việc chị Lại Thị Mộng T xin ly hôn với anh Cao Minh Đ là có căn cứ phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

[5]Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6]Về tài sản chung, và nợ chung: do chị Lại Thị Mộng T khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7]Án phí: chị Lại Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Vị kiểm sát viên là có căn cứ phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Khoản 1, Điều 28; Khoản 1 Điều 35; điểm a, Khoản 1, điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238, và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng: các Điều 19; 51; 53; 54; 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lại Thị Mộng T.

Cho chị Lại Thị Mộng T được ly hôn với anh Cao Minh Đ.

3

Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản, nợ chung: chị Lại Thị Mộng T khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Lại Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm mà chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0004540, ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long. Nên chị T không phải nộp thêm tiền án phí.

Anh Cao Minh Đ không phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho chị T có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Đ vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b, và điều 9 luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Trà Vinh;

- VKSND huyện Càng Long;

- Chi cục THADS huyện Càng Long;

- Các đương sự;

- Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Tâm

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH về ly hôn

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger