TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2025. V/v: “Ly hôn, nuôi con chung". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Công Mừng, Ông Giáp Văn Phẩm.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 454/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 24/4/2024, quá trình giải quyết vụ án và diễn biến tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn với nhau năm 2003, trước khi cưới hai bên được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, chị có về chung sống với anh N tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Vợ chồng phát sinh từ tháng 02/2024, nguyên nhân do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, anh N thường hay đánh đập chị, xảy ra to tiếng cãi chửi nhau, cũng từ thời gian này vợ chồng sống ly thân không còn quan hệ tình cảm gì nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị H1 – sinh ngày 06/12/2003 hiện nay cháu đã trưởng thành, lập gia đình riêng, cháu Nguyễn Văn H2 – sinh ngày 15/9/2008 hiện nay chưa đủ 18 tuổi. Ly hôn nguyện vọng của cháu H2 ở với ai chị tôn trọng quyền quyết định của cháu. Trường hợp cháu ở với chị, chị đồng ý nuôi dưỡng cháu không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh Nguyễn Văn N trong quá trình hôn nhân không có tài sản, công nợ chung. Chị không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết vấn đề này.
* Tại biên biên bản ghi lời khai ngày 28/02/2025, quá trình giải quyết vụ án, diễn biến tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau năm 2003, trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu không ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới chị H về chung sống với anh tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận hạnh phúc, đến thời gian khoảng 3-4 năm gần đây (anh không nhớ được thời gian cụ thể), anh nghi ngờ chị H có quan hệ người khác dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hoà thuận nữa, anh có khuyên bảo chị H nhưng không được, đỉnh điểm đến tháng 02/2024 chị H tự ý ra ngoài ở riêng cho đến nay không quay lại chung sống cùng anh nữa. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể duy trì đời sống hôn nhân chị H xin ly hôn anh đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng sinh được hai người con chung là Nguyễn Thị H1 sinh ngày 06/12/2003 hiện nay cháu đã trưởng thành, lập gia đình riêng, cháu Nguyễn Văn H2 – sinh ngày 15/9/2008 hiện nay chưa đủ 18 tuổi. Ly hôn cháu H1 đã trưởng thành có gia đình riêng anh không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với cháu H2 chưa đủ 18 tuổi nguyện vọng của cháu ở với ai anh tôn trọng quyền quyết định của cháu. Trường hợp cháu H2 có nguyện vọng ở với chị H, chị H nuôi cháu không yêu cầu anh cấp dưỡng anh đồng ý.
- Về tài sản, công nợ chung: Anh và chị Nguyễn Thị H không phát sinh tài sản, công nợ chung, anh không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai cháu Nguyễn Văn H2 trình bầy: Cháu là con mẹ Nguyễn Thị H, bố Nguyễn Văn N hiện nay cháu đang học lớp 11 tại Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện L. Cháu được biết bố mẹ đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, cháu mong muốn bố mẹ về sống chung với nhau, trường hợp bố mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu xin được ở với mẹ là Nguyễn Thị H.
- Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt lần thứ hai. Hội đồng xét xử công bố biên bản ghi lời khai của chị H, anh N và cháu Nguyễn Văn H2.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- - Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Văn H2 – sinh ngày 15/9/2008. Sau khi ly hôn, anh N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H nuôi con chung không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Nguyễn Văn N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
3.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 26/4/2003, như vậy đây là quan hệ hôn nhân là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Về mâu thuẫn: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N đều xác định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, nói không ai nghe ai, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay. Điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2 Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N đều xác định vợ chồng có hai người con chung là Nguyễn Thị H1 – sinh ngày 06/12/2003 hiện nay cháu đã trưởng thành, lập gia đình riêng, cháu Nguyễn Văn H2 – sinh ngày 15/9/2008 hiện đang học lớp 11. Ly hôn cháu H1 đã trưởng thành, có cuộc sống riêng chị H, anh N không có yêu cầu đề nghị gì, đối với cháu H2 hiện nay chưa đủ 18 tuổi cả chị H, anh N tôn trọng quyền quyết định của cháu, trường hợp cháu H2 ở với chị H anh N đồng ý, chị H không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành lấy ý kiến của con chung là Nguyễn Văn H2 trường hợp bố mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu ở với mẹ là Nguyễn Thị H do vậy cần tiếp tục giao cháu H2 cho chị H tiếp tục trăm nom, nuôi dưỡng giáo là phù hợp với các Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3.3 Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N đều xác định trong quá trình hôn nhân không phát sinh tài sản công nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6; Điều 26; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Văn H2 – sinh ngày 15/9/2008. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con làm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục còn thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006471 ngày 14/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí, chị H không phải nộp án phí nữa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Văn Vĩ |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ Nguyễn Thị H + Nguyễn Văn N
