Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ - ST

Ngày 21 tháng 3 năm 2025

"V/v: Tranh chấp Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Pham Lành

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vi Phương Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Diệp Thị Hương - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 05/2024/TLST-LH ngày 03 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXX-ST ngày 14/02/2025 giữa:

Nguyên đơn: Chị Tăng Thị D, sinh năm 1998. Nơi cư trú xóm Y, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh Đào Quang C, sinh năm 1996. Nơi cư trú xóm H, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

(Chị D có mặt, anh C vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày

Chị D và Anh Đào Quang C kết hôn năm 2021 tại UBND xã S, TP T, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có tổ chức cưới hỏi theo nghi thức truyền thống của dân tộc. Vợ chồng tôi chung sống hòa thuận đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn thông cảm, thấu hiểu, chia sẻ với nhau. Chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, tôi đã về ngoại sinh sống ở xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nay tôi xác định không còn tình cảm với anh C, đề nghị tòa án giải quyết ly hôn để tôi sớm ổn định cuộc sống. Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Đào Thị Kim A, sinh ngày 30/9/2022, khi ly hôn, tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kim A, tại phiên tòa tôi yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung, chị D, anh C tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị D tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Đào Quang C trình bày trong quá trình tự khai và hòa giải: Anh C xác nhận thông tin về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn như Chị D trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại xóm H, xã S, TP T. Quá trình sinh sống, vợ chồng hạnh phúc, yêu thương nhau. Sau đó hai vợ chồng có bất đồng quan điểm sống, tuy nhiên anh C vẫn muốn đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con cái. Về con chung vợ chồng có 01 con chung là Đào Thị Kim A, sinh ngày 30/9/2022, trong trường hợp phải ly hôn, anh C đồng ý để chị D nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thỏa thuận; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh C nhất trí để chị D nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhiều lần, tuy nhiên chị D cương quyết ly hôn, anh C không nhất trí giữ nguyên ý kiến tại các phiên hòa giải do Tòa án tổ chức.

Do hai bên đương sự không thỏa thuận được chị D có ý kiến không yêu cầu hoà giải. Do vậy phải mở phiên tòa xét xử ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, chị D giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Quang C, lý do đã ly thân nhau lâu, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau và tình cảm vợ chồng không còn.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục đúng theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Tại phiên toà chị D xác định vợ chồng đã ly thân nhau mỗi người một nơi, nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị cho ly hôn để giải phóng cho cả hai bên. Xét thấy chị D anh C đã ly thân nhau, mỗi người một nơi, chị D xác định không còn tình cảm với anh C, không thể hàn gắn với anh C, tình cảm sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cương quyết ly hôn nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình. Về con chung vợ chồng có 01 con chung là cháu Đào Thị Kim A, sinh ngày 30/9/2022, khi ly hôn chị D có nguyện vọng nuôi con, anh C nhất trí, nên cần giao con cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác. Anh C có quyền đi lại, thăm nom con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Về phần tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, về án phí: chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của chị Tăng Thị D, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn”; bị đơn có địa chỉ xóm H, xã S, thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn để tham gia tố tụng. Tuy nhiên anh C vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vắng mặt đối với anh Đào Quang C

[2] Về nội dung:

2.1 Về hôn nhân:

Chị Tăng Thị D và anh Đào Quang C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc đăng ký kết hôn đã được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố T là cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn: Sau khi kết hôn hai vợ chồng có 01 con chung, tuy nhiên quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn quan điểm sống bất đồng, không có thông cảm, thấu hiểu chia sẻ và không có tiếng nói chung, chị D đã ly thân anh C từ năm 2022 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau; nay chị D viết đề nghị được đơn ly hôn anh C. Anh C cho rằng không đồng ý ly hôn lý do mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dậy con cái, tuy nhiên chị D không nhất trí đoàn tụ và cương quyết ly hôn để ổn định cuộc sống. Từ nội dung trên Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh C đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên nên cần chấp nhận đơn khởi kiện về ly hôn của chị D, cho chị D được ly hôn với anh C là hợp với thực tế và đúng quy định tại các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình.

2.2 Về con chung:

Chị D và anh C có 01 con chung là cháu Đào Thị Kim A, sinh ngày 30/9/2022, hiện nay cháu Kim A còn nhỏ, chị D đang nuôi con, nên cần giao cháu Kim A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Sau khi ly hôn anh C có quyền đi lại, thăm nom con chung theo quy định.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét

2.3 Về tài sản chung, nợ chung:

Chị D và anh C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

[3] Về án phí:

Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ: các Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217; Điều 218; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí Lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tăng Thị D về việc "Ly hôn"
    • - Quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị D được ly hôn với anh Đào Quang C
    • - Về con chung: Giao cho chị Tăng Thị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cháu Đào Thị Kim A, sinh ngày 30/9/2022, đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác; anh C có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
    • - Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
  2. Án phí: Chị Tăng Thị D phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm chuyển từ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000647 ngày 03/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên
  3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN
  • - VKSND TP;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - UBND xã Sơn Cẩm, TPTN
  • - Đương Sự;
  • - Lưu HS.BP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ - ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger