Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/03/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Em.

2. Ông Nguyễn Tống Nê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Đình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 580/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Võ Ngọc C, sinh năm: 1989, địa chỉ: Số B, ấp H, xã A (nay là xã T), huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Chị Dương Thị B, sinh năm: 1992, địa chỉ: Số B, ấp H, xã A (nay là xã T), huyện C, tỉnh Bến Tre.

( Anh C có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, chị B vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và các biên bản trong quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn anh Võ Ngọc C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Dương Thị B tự nguyện kết hôn vào ngày 27/08/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng vào năm 2014 thì giữa anh C và chị B xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không phù hợp. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay do chị B đã ẵm con bỏ nhà đi biệt tích. Gia đình đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không có kết quả. Sau đó, anh C làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Dương Thị B mất tích. Kể từ ngày 30/9/2024 khi Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tuyên bố chị B mất tích đến nay thì không có tin tức gì của chị B. Nay, anh C xác định không còn tình cảm với chị Dương Thị B nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị B. Khi ly hôn, anh C không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là Võ Ngọc Ánh K, sinh ngày 23/07/2013. Khi ly hôn, anh C đồng ý để chị B nuôi dưỡng con chung và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Dương Thị B mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị Dương Thị B đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của chị Dương Thị B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật.

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn thực hiện chưa đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào nội dung trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa anh C và chị B đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung giữa vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh C. Ghi nhận anh C không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là Võ Ngọc Ánh K, sinh ngày 23/07/2013 hiện con chung đang sống với chị B. Xét thấy từ khi anh C và chị B ly thân cháu K luôn sống với chị B, trong quá trình giải quyết vụ án anh C đồng ý để chị B tiếp tục nuôi cháu K. Do đó, để đảm bảo về mọi mặt của con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Võ Ngọc Ánh K cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa anh Võ Ngọc C và chị Dương Thị C1 là tranh chấp về ly hôn, bị đơn chị B có nơi cư trú tại số B, ấp H, xã A (nay là xã T), huyện C, tỉnh Bến Tre, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị B vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, anh C1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C1 và chị B là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Anh C1 và chị B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/08/2013 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh C1 xác định giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cãi. Anh C1 và chị B đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Do chị B đã ẵm con bỏ nhà đi biệt tích. Gia đình đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không có kết quả. Sau đó, anh C1 làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Dương Thị B mất tích tuy nhiên kể từ ngày 30/9/2024 có quyết định tuyên bố chị B mất tích của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đến nay thì cũng không có tin tức gì của chị B nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh C1 và chị B.

Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng hiện anh C1 và chị B sống ly thân đã lâu, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay anh C1 xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị B. Từ đó có cơ sở để xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C1 và chị B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C1. Ghi nhận việc anh C1 không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Anh C1 và chị B có 01 con chung là Võ Ngọc Ánh K, sinh ngày 23/07/2013. Anh C1 trình bày con chung hiện đang sống chung với chị B. Sau khi ly hôn, anh C1 đồng ý để chị B nuôi dưỡng con chung và anh C1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi anh C1 và chị B ly thân thì cháu Kim S cùng với chị B. Do đó, để đảm bảo về mọi mặt của con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con chung nên Hội đồng xét xử giao cháu Trần Ngọc Ánh K1 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng.

[4] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[5] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[6] Về án phí: Anh C1 là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Võ Ngọc C được ly hôn với chị Dương Thị B. Ghi nhận việc anh C không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc Ánh K, sinh ngày 23/07/2013 cho chị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

    Sau khi ly hôn, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Chị B được quyền trực tiếp nuôi con không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Anh C khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  4. Về nợ chung: Anh C khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  5. Về án phí: Anh Võ Ngọc C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006240 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh C đã nộp xong án phí.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã An Hiệp (Tường Đa), huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger