TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/02/2025.
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Huệ
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 215/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/01/2025; Quyết định hoãn số 04/2025/QĐ-ST ngày 02/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Vân A, sinh năm 2001;
Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ hiện nay: Số A đường Q cũ, thôn Y, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 2001;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ hiện nay: K, Nhật Bản
Tại phiên tòa anh L và chị A đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Vân A trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Đình L đăng ký kết hôn ngày 07/09/2022 tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Chúng tôi kết hôn trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện không có sự ép buộc, sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cải nhau, anh L đi nước ngoài từ đầu năm 2024, không cung cấp tiền nuôi con, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy, để cả hai được tự do có cuộc sống mới nên tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Đình L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình C, sinh ngày 17/03/2023 và cháu Nguyễn Đình Minh Đ sinh ngày 05/07/2024.
Tại thời điểm chị A làm đơn khởi kiện cho đến nay anh L không có mặt tại Việt Nam nên chị A đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu C và Đ. Chị A không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị A trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh L ở bên Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh L vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Phạm Thị H, địa chỉ tại thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Chị A đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ anh Nguyễn Đình L.
* Tại các buổi xác minh tại gia đình anh L, có mặt mẹ đẻ là bà Phạm Thị H Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà.
* Tại các biên bản lấy làm việc bà H trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Đình L và là mẹ chồng của chị Nguyễn Thị Vân A1. Hiện nay anh L đi xuất lao động tại Nhật Bản, địa chỉ bà không biết, thỉnh thoảng anh L liên lạc với bà và gia đình qua mạng xã hội và điện thoại. Về hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 07/09/2022 tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vợ chồng cùng chung sống hạnh phúc cùng ở với bà tại gia đình bà. Đến năm 2024 khi chị A1 đẻ cháu Đ thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh L đi Nhật Bản, việc ly hôn bà mới biết tháng 9/2024, anh L cũng biết và đồng ý ly hôn bà tôn trọng quyết định của anh chị.
Về con thì cháu lớn là Nguyễn Đình C vẫn đang ở với bà và gia đình bà đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu từ bé, cháu đang có cuộc sống ổn định nên bà xin được tiếp tục nuôi cháu thay cho con trai bà, anh L cũng thống nhất với ý kiến của bà.
Về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết đây cũng là ý kiến của anh L.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 208, Điều 477, Điều 478 BLTTDS và công văn 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TAND tối cao. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Vân A được ly hôn với anh Nguyễn Đình L; Giao cả hai cháu Nguyễn Đình C, sinh ngày 17/03/2023 và cháu Nguyễn Đình Minh Đ sinh ngày 05/07/2024 cho chị Lê Thị Vân A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày hiện tại bị đơn anh Nguyễn Đình L đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Tại công văn số: 4912/XNC (T3) ngày 25/11/2024 của Công an Tỉnh T phòng quản lý xuất nhập cảnh cung cấp thông tin cho Tòa án xác định anh Nguyễn Đình L, sinh ngày 30/04/2001; CCCD số [...] đã xuất cảnh qua sân bay N, đến nay chưa về nước. Do trong vụ án này có bị đơn cư trú ở nước ngoài, tuy nhiên có nói cư trú cuối cùng tại thôn X, xã X, huyện N. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị Lê Thị Vân A chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn Đình L ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh L ở tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng mẹ của anh L từ chối khai báo, cung cấp thông tin. Tuy nhiên gia đình vẫn nắm bắt thông tin qua mạng xã hội và điện thoại với anh L ở nước ngoài nên đồng ý nhận giấy tờ của Tòa án và sẽ thông báo cho anh L, vì vậy Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lê Thị Vân A có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Đình L vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Nguyễn Đình L và chị Lê Thị Vân A.
[2]. Xét nội dung khởi kiện của chị Lê Thị Vân A:
[2.1]. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Vân A và anh Nguyễn Đình L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có Giấy đăng ký kết hôn ngày 07/09/2022 tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp, là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không quan tâm nhau, không còn tình cảm và đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay chị A thấy tình cảm vợ chồng đã hết đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với anh L để sớm ổn định cuộc sống.
Xét thấy, cuộc sống chung của chị A và anh L không còn tồn tại, mục đích hôn nhân là cùng tạo lập, xây dựng cuộc sống chung không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Vân A, cho chị A được ly hôn anh Nguyễn Đình L là phù hợp.
[2.2]. Về con chung: Chị Lê Thị Vân A và anh Nguyễn Đình L có hai con chung là cháu Nguyễn Đình C, sinh ngày 17/03/2023 và cháu Nguyễn Đình Minh Đ sinh ngày 05/07/2024. Nguyện vọng của chị A là trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai cháu C và Đ không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy hiện tại anh L đang làm việc tại Nhật Bản, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình C, sinh ngày 17/03/2023 và cháu Nguyễn Đình Minh Đ sinh ngày 05/07/2024 được, hiện cả hai cháu đang dưới 36 tháng tuổi không thể giao các cháu cho bà Phạm Thị H là mẹ đẻ của anh L trực tiếp nuôi dưỡng theo yêu cầu của bà thay cho anh L được, nên giao cả hai cháu Nguyễn Đình C và cháu Nguyễn Đình Minh Đ cho chị A trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị A về việc không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị. Tuy nhiên, quá trình nuôi dưỡng con chung, để bảo đảm cuộc sống cho cháu, khi cần thiết chị A có quyền khởi kiện yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung và công nợ: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xét. Anh L không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản và công nợ chung nên nếu sau này anh L có yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
[3]. Về án phí: Chị Lê Thị Vân A là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị A phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 266; Điều 273; Điều 477; Điều 478; Điều 479 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Vân A.
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Vân A được ly hôn với anh Nguyễn Đình L.
- Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Đình C, sinh ngày 17/03/2023 và cháu Nguyễn Đình Minh Đ sinh ngày 05/07/2024 cho mẹ đẻ là chị Lê Thị Vân A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Anh Nguyễn Đình L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị Lê Thị Vân A không yêu cầu giải quyết tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Vân A phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp tại Biên lai thu số: 0000710 ngày 28/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Vân A và anh Nguyễn Đình L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đại Long |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
