TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày 09 tháng 4 năm 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Hoàng;
- Bà Văng Thảo Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 457/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Minh V, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà và ông Nguyễn Văn Minh V do tự tìm hiểu, được gia đình đồng ý nên tiến đến hôn nhân, chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh An Giang vào năm 2015. Thời gian chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, ông Vương V1 vào tệ nạn xã hội bà khuyên ngăn không được, đến khi ông V bị bắt đi chấp hành án phạt 07 năm tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2020, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không còn chung sống với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn Minh V.
- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 03/5/2015. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu Minh T1, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho ông Nguyễn Văn Minh V nhưng ông V vắng mặt, vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng bà T không đồng ý đoàn tụ chung sống, giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn ông Nguyễn Văn Minh V; yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Văn Minh V ngày 21/3/2025, ông V trình bày:
Ông V và bà Nguyễn Thị Bích T tiến đến hôn nhân vào năm 2015, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T. Thời gian chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, thường xuyện cự cãi, ông V vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, ông đồng ý ly hôn bà T.
- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 03/5/2015. Sau khi ly hôn, ông đồng ý để cháu T1 cho bà T nuôi dạy theo như nguyện vọng của cháu. Ông V không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Ông Nguyễn Văn Minh V được triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích T đối với ông Nguyễn Văn Minh V; giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 03/5/2015 cho bà T được nuôi dạy sau khi ly hôn, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Buộc bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Bích T khởi kiện xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn Minh V có nơi cư trú tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Nguyễn Văn Minh V có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Văn Minh V do tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên không hạnh phúc, ông V vi phạm pháp luật hình sự, bà T nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, đến khi ông V phải đi chấp hành án thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Gia đình đã hàn gắn tình cảm nhưng cả hai không chấp nhận chung sống lại với nhau. Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương, người thân trong gia đình xác định nguyên nhân mâu thuẫn đúng như lời bà Nguyễn Thị Bích T trình bày.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà T, ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 03/5/2015.
Xét thấy từ khi bà T, ông V không chung sống với nhau thì cháu T1 do bà T trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con; cháu T1 có nguyện vọng sống chung với bà T sau khi cha mẹ ly hôn. Ông V đồng ý để con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dạy. Nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống, sinh hoạt bình thường và tâm lý của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận để bà T được tiếp tục nuôi con chung sau khi ly hôn.
Bà T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông V không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích T được ly hôn ông Nguyễn Văn Minh V.
- - Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích T được nuôi cháu Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 03/5/2015.
- Ông Nguyễn Văn Minh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- - Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008869 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu (bà T đã nộp đủ).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn Minh V có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Nhựt |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÀ NGUYỄN THỊ BÍCH T LY HÔN ÔNG NGUYỄN VĂN MINH V
