Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08/4/2025

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà

Ông Thạch Văn Hoà

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/12/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H. Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Phạm Thị X. Địa Chỉ: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2024 nguyên đơn ông Phạm Văn H trình bày:

Nguyên vào năm 1984, ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị X quen nhau, chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên cuộc sống hôn nhân của ông H và bà X hình thành trước năm 1987 thì vẫn được xem là hôn nhân hợp pháp.

Ông H và bà X chung sống với nhau được 03 người con chung, có tên sau đây: Phạm Ngọc H1 (giới tính Nam ) sinh ngày 23/08/1986; Phạm Thị N (giới tính Nữ ) sinh ngày 12/11/1989 và Phạm Ngọc H2 (giới tính Nữ) sinh ngày 18/08/2002.

Hiện nay các con của ông H đã đủ tuổi trưởng thành và có cuộc sống riêng tư của mình.

Ông H và bà X chung sống với nhau thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa ông H và bà X không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Ông H và bà X đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

Nay ông Phạm Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Ông Phạm Văn H yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị X.

Về con chung: Hiện 03 con chung gồm: Phạm Ngọc H1 (giới tính Nam ) sinh ngày 23/08/1986; Phạm Thị N (giới tính Nữ ) sinh ngày 12/11/1989 và Phạm Ngọc H2 (giới tính Nữ) sinh ngày 18/08/2002 đều đã đủ tuổi trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Phạm Thị X: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Phạm Thị X, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, bà Phạm Thị X vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn ông Phạm Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Ông yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị X; Về con chung: Các con của ông và bà Phạm Thị X đều đã trưởng thành nên ông không yêu cầu giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Nguyên đơn ông Phạm Văn H có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[3] Đối với bị đơn bà Phạm Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Theo ông Phạm Văn H trình bày thì ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị X chung sống với nhau như vợ chồng trước năm 1987 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị X được xác lập trước ngày 03/01/1987, thể hiện qua việc người con lớn của ông, bà là em Phạm Ngọc H1 được sinh ra vào ngày 23/08/1986. Do đó, căn cứ điểm a Mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị X được công nhận là hôn nhân hợp pháp (hôn nhân thực tế). Ông Phạm Văn H trình bày trong quá trình chung sống, giữa ông và bà Phạm Thị X phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai bên đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, ông, bà đã không còn chung sống từ năm 2019 cho đến nay. Do đó, ông Phạm Văn H đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị X. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn bà Phạm Thị X không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc ông Phạm Văn H yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị X là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H và giải quyết cho ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Phạm Thị X.

[2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị X có 03 con chung gôm: Phạm Ngọc H1 (giới tính Nam ), sinh ngày 23/08/1986; Phạm Thị N (giới tính Nữ ), sinh ngày 12/11/1989 và Phạm Ngọc H2 (giới tính Nữ), sinh ngày 18/08/2002, hiện nay đều đã trưởng thành, có khả năng lao động nên ông Phạm Văn H không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phạm Văn H tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí sơ thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a Mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Phạm Thị X.

- Về con chung: Ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị X có 03 con chung gồm: Phạm Ngọc H1 (giới tính Nam), sinh ngày 23/08/1986; Phạm Thị N (giới tính Nữ), sinh ngày 12/11/1989 và Phạm Ngọc H2 (giới tính Nữ), sinh ngày 18/08/2002, hiện nay đều đã trưởng thành, có khả năng lao động nên ông Phạm Văn H không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phạm Văn H tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005753 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, ông Phạm Văn H đã nộp xong án phí sơ thẩm. Bị đơn bà Phạm Thị X không phải chịu án phí sơ thẩm.

Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy Lam

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger