|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
BẢN ÁN SỐ: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04-4-2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Hóa.
- Ông Lê Đình Nhung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thiên Kim – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Nghĩa – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng G, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (Vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Võ Tấn N, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Hồng G trình bày:
Chị và anh Võ Tấn N chung sống với nhau vào khoảng tháng 6-2023, có tìm hiểu trước nên hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 05-6-2023. Ngày làm lễ cưới gia đình anh N có cho nữ trang nhưng hiện số nữ trang này không còn. Sau khi cưới vợ chồng chị về nhà của cha mẹ chồng tại: Ấp T, xã Đ, thị xã T sinh sống và làm ăn.
Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 10-2024 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng chị chung sống không hạnh phúc và thường xảy ra cải nhau về chuyện kinh tế trong gia đình. Anh Như không chịu nghe những lời mà chị tâm sự về việc gia đình chồng đối xử không tốt với chị như thế nào mà lại bênh vực gia đình mình. Ngoài ra, anh N còn ghen tuông vô cớ chị với người khác và nhiều lần chị đã khuyên nhưng anh Như K thay đổi nên khoảng tháng 01-2025 chị bỏ về nhà của cha mẹ chị tại: Khu phố A, phường A, thị xã T sinh sống cho đến nay và vợ chồng chị ly thân nhau từ thời gian này. Kể từ ngày ly thân vợ chồng chị không gặp mặt nhau để bàn bạc việc đoàn tụ gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng chị đã không còn và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Vợ chồng chị chung sống không có con chung nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19-3-2025 bị đơn anh Võ Tấn N trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị G về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Vợ chồng anh chung sống phát sinh mâu thuẫn do chị G nói anh thương mẹ mà không quan tâm, bỏ bê chị G nên tháng 01-2025 chị G tự ý bỏ nhà chồng để về nhà cha mẹ của chị G sinh sống cho đến nay. Từ ngày ly thân cho đến nay vợ chồng anh không có gặp mặt nhau để bàn bạc việc đoàn tụ gia đình.
Nay về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị G.
Về con chung: Vợ chồng anh chung sống không có con chung nên anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên anh không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G đối với anh N.
- Về con chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị G và anh N chung sống với nhau vào năm 2023 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thị xã T. Do đó, hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, nay chị G có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.
Xét yêu cầu ly hôn của chị G thì thấy: Mâu thuẫn giữa anh chị chủ yếu phát sinh từ việc anh chị hay xảy ra cải nhau về vấn đề kinh tế trong gia đình và anh N không quan tâm đến những lời mà chị G chia sẻ về chuyện gia đình chồng đối xử không tốt với chị G mà lại bênh vực gia đình mình. Bên cạnh đó, anh N còn hay ghen tuông vô cớ mà không có lý do chính đáng. Ngược lại, anh N cho rằng chị G nói anh N thương mẹ mình mà không quan tâm, bỏ bê chị G và khoảng tháng 01-2025 chị G tự ý bỏ về nhà của cha mẹ chị G sống cho đến nay. Kể từ ngày ly thân cho đến nay anh chị không gặp nhau để bàn bạc việc đoàn tụ gia đình nên nay anh N đồng ý ly hôn theo như yêu cầu của chị G. Tuy nhiên, do anh N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án không thể công nhận thuận tình ly hôn của anh chị mà phải đưa vụ án ra xét xử. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh chị khai không có nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị khai không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Từ những nhận định trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị G phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Hồng G đối với anh Võ Tấn N. Chị G được ly hôn với anh N.
- Về con chung: Anh chị khai không có nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị G đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số: 0012287 ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị G đã nộp xong tiền án phí.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tuấn Anh |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Hồng Gấm ly hôn với anh Võ Tấn N
