Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH OAI

HÀ NỘI

***

Bản án số: 23/2025/DSST

Ngày: 9/6/2025

V/v: Tranh chấp HĐ tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiểm
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Tuấn
  • 2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Bá Minh Huy - CBTA
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên toà: ông Mai Lương Sơn - Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 9 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 100/2024/TLST- DSST ngày 2 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-ST ngày 10 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: + Công ty cổ phần M1

Địa chỉ: Số I D, D, quận C, Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Ngọc L. Có mặt

+ Ngân hàng TMCP V1

Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, TP .

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – CTHĐQT

Đại diện theo ủy quyền: Đào Tuấn V. Xin vắng mặt

Bị đơn: + Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1995. Vắng mặt

Trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội

+ Bà Nguyễn Thùy D1, sinh năm 2001. Vắng mặt

Trú tại: Thôn G, xã T, huyện T, Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1994. Vắng mặt

Trú tại: Đ, thôn C, thị trấn K, huyện T, Hà Nội

1

NỘI DUNG

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 9/11/2022 Ngân hàng TMCP V1 và Ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 kí hợp đồng cho vay hạn mức số LN2211037323407 có nội dung: Ngân hàng cho ông T1, bà D1 vay 3.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỉ năm trăm triệu đồng); thời hạn cho vay: 300 tháng; tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay; Mục đích sử dụng vốn vay: Vay hoàn vốn mua bất động sản tại thửa đất số 96, TBĐ số 25, địa chỉ thôn C, K, T, Hà Nội; lãi suất được thể hiện trong từng khế ước nhận nợ; Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là toàn bộ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 96, Tờ bản đồ số: 25 theo bản đồ địa chính đo đạc tổng thể, địa chỉ: Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 647721, số vào sổ cấp GCN: CS-TO 11261 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 16/09/2022, ngày 25/10/2022 tại Văn Phòng Đ – chi nhánh huyện T đăng ký chuyển nhượng cho Ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 4976/2022, quyển số: 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 09/11/2022. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện hợp đồng, ngân hàng TMCP V1 đã giải ngân cho ông T1, bà D1 toàn bộ tiền vay trên thông qua bốn khế ước nhận nợ vào các ngày 15/11/2022, ngày 16/11/2022; ngày 17/11/2022 và ngày 18/11/2022

Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng TMCP V1 từ ngày 15/12/2023.

Ngày 31/05/2024, Ngân hàng TMCP V1 đã tiến hành bán Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay số LN2211037323407 ngày 09/11/2022, số tiền cho vay: 3.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng) cho Công ty cổ phần M1 theo Hợp đồng mua bán nợ số 06/2024/VPB-MARS

Đại diện Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 đã nhiều lần đôn đốc ông T1 bà D1 thanh toán trả nợ nhưng ông T1, bà D1 không thanh toán trả tiền. Nay Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 khởi kiện yêu cầu ông

2

T1, bà D1 thanh toán trả Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 theo hợp đồng tín dụng số LN2211037323407 ngày 9/11/2022

Tạm tính đến ngày 9/6/2025, Ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền là 4.507.436.650 đồng trong đó: nợ gốc là: 3.476.499.560 đồng, nợ lãi trong hạn là: 108.613.195 đồng, nợ lãi quá hạn là: 818.830.667 đồng, phạt chậm trả lãi là 103.493.228 đồng, trong đó ông T1, bà D1 nợ cụ thể từng nguyên đơn như sau:

  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Công ty cổ phần M1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 4.056.692.985 đồng trong đó: nợ gốc là: 3.128.849.604 đồng, nợ lãi trong hạn là: 97.751.875 đồng, nợ lãi quá hạn là: 736.947.600 đồng, phạt chậm trả lãi là 93.143.906 đồng
  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 450.743.665 đồng trong đó: nợ gốc là: 347.649.956 đồng, nợ lãi trong hạn là: 10.861.320 đồng, nợ lãi quá hạn là: 81.883.067 đồng, phạt chậm trả lãi là 10.349.322 đồng

Nay nguyên đơn yêu cầu Yêu cầu Tòa án tiếp tục buộc ông T1, bà D1 phải tiếp tục chịu lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín nêu trên cho đến ngày Ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 thực tế thanh toán hết nợ cho M và Ngân hàng TMCP V1.

Trường hợp Ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số: 96, Tờ bản đồ số: 25 theo bản đồ địa chính đo đạc tổng thể, địa chỉ: Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 647721, số vào sổ cấp GCN: CS-TO 11261 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 16/09/2022, ngày 25/10/2022 tại Văn Phòng Đ – chi nhánh huyện T đăng ký chuyển nhượng cho Ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 4976/2022, quyển số: 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C ngày 09/11/2022. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật để thu hồi nợ.

Bị đơn là ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Xuân T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình về việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ cho Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.

3

Ngày 19/12/2024 Hội đồng thẩm định đã tiến hành xem xét thẩm định đối với tài sản thế chấp xác định thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25, tại địa chỉ Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội là có nguồn gốc là do ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 nhận chuyển nhượng; trên đất có 01 nhà mái bằng, 01 nhà tạm xây tường lợp tôn, 01 nhà tạm vách tôn, mái tôn.

Tòa án cũng đã tiến hành xác minh, xác định: tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25, tại địa chỉ số nhà B, đường C, Đ, Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội tại thời điểm hiện tại có ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1994 đang sinh sống.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T1, bà D1 phải thanh toán trả Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm thanh toán theo hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 19/5/2025 nêu trên và tiền lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ; nếu ông T1, bà D1 không thanh toán trả tiền cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên trên đất tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25, tại địa chỉ số nhà B, đường C, Đ, Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai phát biểu: Việc thụ lý, giải quyết vụ án được Thẩm phán thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật tại phiên tòa Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật, đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không lên Tòa làm việc, không đến phiên tòa là không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; về nội dung vụ án: yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 có cơ sở chấp nhận nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 phải thanh toán trả Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 tổng số tiền là 4.507.436.650 đồng trong đó: nợ gốc là: 3.476.499.560 đồng, nợ lãi trong hạn là: 108.613.195 đồng, nợ lãi quá hạn là: 818.830.667 đồng, phạt chậm trả lãi là 103.493.228 đồng, trong đó ông T1, bà D1 nợ cụ thể từng nguyên đơn như sau:

  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Công ty cổ phần M1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 4.056.692.985 đồng trong đó: nợ gốc là: 3.128.849.604 đồng, nợ lãi trong hạn là: 97.751.875 đồng, nợ lãi quá hạn là: 736.947.600 đồng, phạt chậm trả lãi là 93.143.906 đồng
  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 450.743.665 đồng trong đó: nợ gốc là: 347.649.956 đồng, nợ lãi trong hạn là: 10.861.320 đồng, nợ

4

lãi quá hạn là: 81.883.067 đồng, phạt chậm trả lãi là 10.349.322 đồng; tiếp tục chịu lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ; nếu ông T1, bà D1 không thanh toán trả tiền cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 có quyền đề nghị phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25, tại địa chỉ số nhà B, đường C, Đ, Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được các cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng; bị đơn là Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1995, Bà Nguyễn Thùy D1, sinh năm 2001; đều sinh sống tại Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội nên căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai giải quyết sơ thẩm.

Do bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

2] Về nội dung:

2.1 Xét yêu cầu của Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 về việc buộc Ông Nguyễn Minh T1 và Bà Nguyễn Thùy D1 thanh toán trả Ngân hàng toàn bộ tiền nợ theo hợp đồng cho vay hạn mức số LN2211037323407 ngày 9/11/2022, hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 9/11/2022 Ngân hàng TMCP V1 đã kí hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1; có nội dung Ngân hàng cho ông T1, bà D1 vay 3.500.000.000 đồng; thời hạn cho vay: 300 tháng; tính từ ngày tiếp theo của ngày bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay; Mục đích sử dụng vốn vay: Vay hoàn vốn mua bất động sản; lãi suất tại thời điểm vay 13,48 %/năm được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân sau được điều chỉnh; lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

5

Tại thời điểm kí kết hợp đồng, đại diện Ngân hàng TMCP V1 có đủ tư cách pháp nhân và ông T1, bà D1 đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ điều kiện tham gia kí kết hợp đồng; việc kí kết hợp đồng của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên xác định hợp đồng tín dụng trên giữa Ngân hàng TMCP V1 với ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 là hợp pháp.

Sau khi kí hợp đồng trên Ngân hàng TMCP V1 đã giải ngân toàn bộ tiền vay cho ông T1, bà D1 4 lần thông qua 04 khế ước nhận nợ; ông T1 bà D1 đã nhận đủ tiền vay và thực hiện thanh toán trả nợ gốc: 23.500.440 đồng, nợ lãi: 407.474.254 đồng, sau đó không thanh toán được nữa. Vì vậy khoản vay của ông T1, bà D1 đã bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/12/2023. Việc ông T1, bà D1 không thanh toán trả tiền cho Ngân hàng TMCP V1 đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Ngày 31/05/2024, Ngân hàng TMCP V1 đã tiến hành bán 90% khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay số LN2211037323407 ngày 09/11/2022, số tiền cho vay: 3.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng) giữa Ngân hàng TMCP V1 với ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 cho Công ty cổ phần M1 theo Hợp đồng mua bán nợ số 06/2024/VPB-MARS. Xét việc Ngân hàng TMCP V1 ký hợp đồng bán 90% khoản nợ của Hợp đồng cho vay số LN2211037323407 ngày 09/11/2022, giữa Ngân hàng TMCP V1 với ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 cho Công ty cổ phần M1 là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên xác định Công ty cổ phần M1 có quyền kế thừa, quyền và nghĩa vụ đối với khoản vay trên của ông T1, bà D1 theo quy định của pháp luật.

Nay Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 khởi kiện yêu cầu ông T1, bà D1 thanh toán trả Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 thịnh vượng toàn bộ tiền nợ gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt phát sinh theo tỉ lệ tiền nợ tương ứng với số tiền vay tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ hai bên đã kí kết, hợp đồng mua bán nợ và tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần buộc ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 có trách nhiệm thanh toán trả nợ theo hợp đồng cho vay hạn mức số LN2211037323407 ngày 9/11/2022 mà ông T1, bà D1 đã ký kết với Ngân hàng TMCP V1 cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 tương ứng với số tiền nợ từng bên.

Đối chiếu các thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và bảng kê tính lãi Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 cung cấp thấy mức lãi suất mà Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 tính và yêu cầu ông T1, bà D1 phải trả là phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và chứng từ giao dịch được kí kết giữa hai bên, phù hợp với các quy định của Thống đốc ngân

6

hàng N cũng như quy định pháp luật về lãi suất nên chấp nhận. Vì vậy buộc ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 phải trả Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 tổng số tiền là 4.507.436.650 đồng trong đó: nợ gốc là: 3.476.499.560 đồng, nợ lãi trong hạn là: 108.613.195 đồng, nợ lãi quá hạn là: 818.830.667 đồng, phạt chậm trả lãi là 103.493.228 đồng, trong đó ông T1, bà D1 nợ cụ thể từng nguyên đơn như sau:

  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Công ty cổ phần M1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 4.056.692.985 đồng trong đó: nợ gốc là: 3.128.849.604 đồng, nợ lãi trong hạn là: 97.751.875 đồng, nợ lãi quá hạn là: 736.947.600 đồng, phạt chậm trả lãi là 93.143.906 đồng
  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 450.743.665 đồng trong đó: nợ gốc là: 347.649.956 đồng, nợ lãi trong hạn là: 10.861.320 đồng, nợ lãi quá hạn là: 81.883.067 đồng, phạt chậm trả lãi là 10.349.322 đồng

Đồng thời buộc ông T1, bà D1 tiếp tục trả lãi đối với số tiền nợ trên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2.2 Đối với tài sản bảo đảm cho khoản vay, Hội đồng xét xử nhận thấy tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông T1, bà D1 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25, tại địa chỉ Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là do ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1 nhận chuyển nhượng lại, đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25, tại địa chỉ Thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thùy D1

Tại hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 4976/2022; Quyển số: 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 9/11/2022 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội: ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 đồng ý thế chấp toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất và mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, thay thế, xây dựng gắn liền với đất tại thửa đất 96, tờ bản đồ số 25, diện tích 302,5 m² tại địa chỉ: thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội để đảm bảo toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm nghĩa vụ hiện tại và trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt, bồi thường và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo đảm đối với bên ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng được xác lập bở ông T1, bà D1 hoặc được ký kết giữa ông T1, bà D1 với bên Ngân hàng và bên liên quan khác (nếu có) trước, trong và sau ngày ký kết hợp đồng thế chấp. Tài sản thế chấp đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài

7

sản gắn liền với đất tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Hà Nội, chi nhánh huyện T theo đúng quy định của pháp luật.

Nay Đại diện Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 đề nghị trường hợp ông T1, bà D1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả tiền nợ gốc và tiền lãi thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ.

Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp ông T1, bà D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1, Hội đồng xét xử thấy: hợp đồng thế chấp được ký kết giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP V1 được lập trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, hợp đồng đã được công chứng và đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật nên có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành. Vì vậy trong trường hợp ông T1, bà D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 96, tờ bản đồ số 25, diện tích 302,5 m² tại địa chỉ: thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 647721, số vào sổ cấp GCN: CS-TO-11261 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 16/9/2022 cho ông Nguyễn Xuân T2 (là người đại diện thừa kế của hộ ông Nguyễn Xuân T3); Ngày 12/10/2022 Văn phòng Đ, chi nhánh huyện T xác nhận ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1994 trú tại Đ, thôn C, thị trấn K, huyện T, Hà Nội nhận thỏa thuận phân chia, nhận thừa kế, nhận tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất; Ngày 25/10/2022 Văn phòng Đ chi nhánh huyện T xác nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1995 và vợ là bà Nguyễn Thùy D1, sinh năm 2001; tài sản bảo đảm đã thế chấp tại Ngân hàng TMCP V1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng số công chứng 4976/2022; Quyển số: 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 9/11/2022 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội để thu hồi nợ là có căn cứ, nên chấp nhận.

Xét thấy tại hợp đồng mua bán nợ giữa Công ty M1 và Ngân hàng TMCP V1 thỏa thuận: Ngân hàng TMCP V1 đồng ý bán 90% khoản nợ (bao gồm cả gốc, lãi, lãi phạt và phí chưa thanh toán) và các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ giữa bên bán nợ và bên nợ tức giữa Ngân hàng TMCP V1 và ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 cho Công ty cổ phần M1. Do vậy trong trường hợp ông T1, bà D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 thì Công ty

8

cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 96, tờ bản đồ số 25, diện tích 302,5 m² tại địa chỉ: thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội để thu hồi nợ tương ứng với tỉ lệ số tiền ông T1, bà D1 còn nợ từng bên.

2.3. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải nộp tiền án phí; trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn là ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 phải án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

2.4. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280; 298; 299; 317; 318; 319; 320; 322; 323; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị Định số 163/2006/NĐ –CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo;

Căn cứ Nghị định 11/2012/NĐ –CP ngày 22/2/2012 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo;

Căn cứ nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP Việt Nam thịnh vượng

2. Buộc ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 có trách nhiệm thanh toán trả tiền nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025, tổng số tiền là 4.507.436.650 đồng trong đó: nợ gốc là: 3.476.499.560 đồng, nợ lãi trong hạn là: 108.613.195 đồng, nợ lãi quá hạn là: 818.830.667 đồng, phạt chậm trả lãi là 103.493.228 đồng, trong đó ông T1, bà D1 nợ cụ thể từng nguyên đơn như sau:

  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Công ty cổ phần M1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 4.056.692.985 đồng

9

trong đó: nợ gốc là: 3.128.849.604 đồng, nợ lãi trong hạn là: 97.751.875 đồng, nợ lãi quá hạn là: 736.947.600 đồng, phạt chậm trả lãi là 93.143.906 đồng

  • + Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn nợ Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là: tổng số tiền là 450.743.665 đồng trong đó: nợ gốc là: 347.649.956 đồng, nợ lãi trong hạn là: 10.861.320 đồng, nợ lãi quá hạn là: 81.883.067 đồng, phạt chậm trả lãi là 10.349.322 đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho vay hạn mức số LN2211037323407 ngày 9/11/2022 và các khế ước nhận nợ, tương ứng với thời gian và số tiền chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, trường hợp ông T1, bà D1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ trên và lãi phát sinh cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 96, tờ bản đồ số 25, diện tích 302,5 m² tại địa chỉ: thôn C, thị trấn K, huyện T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 647721, số vào sổ cấp GCN: CS-TO-11261 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 16/9/2022 cho ông Nguyễn Xuân T2 (là người đại diện thừa kế của hộ ông Nguyễn Xuân T3); Ngày 12/10/2022 Văn phòng Đ, chi nhánh huyện T xác nhận ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1994 trú tại Đ, thôn C, thị trấn K, huyện T, Hà Nội nhận thỏa thuận phân chia, nhận thừa kế, nhận tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất; Ngày 25/10/2022 Văn phòng Đ chi nhánh huyện T xác nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1995 và vợ là bà Nguyễn Thùy D1, sinh năm 2001; tài sản bảo đảm đã thế chấp tại Ngân hàng TMCP V1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng số công chứng 4976/2022; Quyển số: 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 9/11/2022 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội để thu hồi nợ.

4. Trường hợp phải xử lý tài sản đảm bảo thì ngoài các đương sự liên quan trong vụ án này là ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 và những người khác có hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú tại địa chỉ trên hoặc không có hộ khẩu nhưng thực tế sinh sống tại địa chỉ trên cũng phải di chuyển tài sản đi chỗ khác để thi hành án.

5. Trường hợp ông T1, bà D1 trả được toàn bộ khoản tiền nợ nêu trên thì Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 có trách nhiệm trả lại giấy tờ nhà đất đã thế chấp và làm thủ tục giải chấp ngay theo quy định của pháp luật.

10

6. Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền phát mại không đủ thanh toán thì ông T1, bà D1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.

Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp có giá trị lớn hơn số tiền ông T1, bà D1 còn nợ Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 thì số tiền còn lại sau khi thanh toán khoản vay được trả cho người thế chấp tài sản.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án buộc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về án phí: Ông Nguyễn Minh T1, bà Nguyễn Thùy D1 phải nộp 112.507.436 đồng án phí dân sự.

Trả lại Công ty cổ phần M1 số tiền 48.385.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021048 ngày 2/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

Trả lại Ngân hàng TMCP V1 số tiền 8.996.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021049 ngày 2/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

8. Án xử công khai sơ thẩm; đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • -TAND TP Hà Nội.
  • -VKS ND huyện Thanh Oai.
  • -THA DS huyện Thanh Oai.
  • -Đương sự.
  • -Lưu hồ sơ vụ án

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kiểm

11

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/DSST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI về tranh chấp hđ tín dụng

  • Số bản án: 23/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger