|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DSPT.
Ngày 13-02-2025
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thắng;
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và bà Lê Thị Hồng Phương.
- Đại diện VKS tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên Trung cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2024/TLPT-DS ngày 08/10/2024 về tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất và nhà. Do bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DSST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 257/2024/QĐ-PT ngày 09/12/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Lệ H, sinh năm 1963;
- Ông Trương Văn M, sinh năm 1958;
Cùng địa chỉ: Số B, tổ A, cụm A, phường N, quận T, thành phố Hà Nội. (Các nguyên đơn vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Lệ H: Bà Hoàng Thúy K, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
2. Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1949;
Địa chỉ: Số B, đường H, tổ D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Thanh H1: Ông Chu Văn T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số nhà E, Ngõ A M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt - Có đơn xin xử vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Anh C, sinh năm 1942; (Vắng mặt).
- Ông Lê Hồng V, sinh năm 1969; (Vắng mặt).
- Bà Lý Diệu T1, sinh năm 1977; (Vắng mặt).
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ A, phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Khắc H2 – Chi Cục trưởng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M trình bày: Khoảng cuối năm 2000, do mẹ của bà H bị ốm nên bà thường xuyên đi lên Thái Nguyên thăm mẹ (lúc này mẹ của bà đang ở với bà Nguyễn Thị Thanh H1 là chị gái ruột). Nguồn gốc 184,1m² đất và toàn bộ tài sản trên đất tại số B đường H, thành phố T là của ông Phạm Mạnh Q và bà Nguyễn Thị H3. Do chuyển về thành phố Hà Nội sinh sống nên ông Q, bà H3 muốn chuyển nhượng nhà, đất này. Qua bà H1 giới thiệu, bà và vợ chồng ông Q thỏa thuận mua bán với giá là 280.000.000 đồng. Ngày 21/2/2001, bà từ Hà Nội lên nhà bà H1 để sang nhà ông Q đặt cọc trước 20.000.000 đồng, sau đó bà gọi điện về Hà Nội để ông M mang tiền lên, ông Trương Văn M trả lời là ngân phiếu còn hạn 3 ngày có được không, bà sang hỏi ông Q nhất trí nhận ngân phiếu.
Sáng ngày 22/2/2001, tại gia đình ông Q có vợ chồng bà, vợ chồng ông Q, bà H1, cháu H4 (con gái bà H1), vợ chồng bà đã trả đủ cho vợ chồng ông Q 260.000.000 đồng. Khi viết giấy mua bán bà nói với ông Q là vợ chồng bà không có hộ khẩu tại Thái Nguyên nên nhờ chị gái là bà H1 đứng tên hộ trên giấy mua bán. Do vậy, giấy mua bán nhà, đất đứng tên người mua là Nguyễn Thị Thanh H1. Trong giấy mua bán nhà, đất có chữ ký của người mua, người bán và người làm chứng là chị Phạm Kim H5 (tổ phó tổ dân phố), chị Trần Thị M1 (là hàng xóm). Ông M1 và cháu H4 trực tiếp lên Công an phường xin chữ ký của anh H6 (Trưởng công an phường Đ). Ông Q đã giao cho bà toàn bộ giấy tờ gốc của thửa đất và căn nhà tại số B đường H.
Sau khi mua nhà, bà còn cho vợ chồng ông Q ở nhờ cho con ông Quang học xong cấp 3. Tháng 6/2001, ông Q chuyển về Hà Nội, vì không lên kịp nên nhờ bà H1 cầm hộ chìa khóa nhà. Sau đó đến tháng 3/2002 vợ chồng bà tiến hành sửa chữa nhà, toàn bộ việc thiết kế, thi công công trình đều nhờ anh Trần Dương H7 (là cháu của ông C - chồng bà H1) đứng ra làm, tổng số tiền làm nhà bà thanh toán cho anh H7 khoảng 60 triệu đồng.
Sau khi làm xong nhà, bà cho vợ chồng anh Nguyễn Văn B (vợ là H8) thuê bán quần áo với thời hạn là 3 năm từ tháng 9/2002 đến tháng 9/2005, nhưng từ tháng 9 năm 2004 đến tháng 2/2005 vợ chồng anh B nhiều lần gọi điện cho vợ chồng bà thông báo có nhiều thanh niên xấu đến đe dọa yêu cầu anh B chuyển đi nơi khác vì căn nhà này đã bán cho bà H1. Đến tháng 3/2005, vợ chồng bà lại sửa lại nhà thuê, thợ quét vôi ve lại và sửa chữa lại hệ thống điện để tiếp tục cho thuê.
Ngoài việc nhờ bà H1 đứng tên hộ trong giấy tờ mua bán căn nhà số B đường H, vợ chồng bà còn đưa cho bà H1 124.000.000 đồng để nhờ mua hộ lô đất phía sau nhưng chờ mãi không thấy có đất, khi bà đi hỏi thì được biết đất đã bán nên bà đòi lại số tiền này. Tháng 8/2004 cháu H4 (con bà H1) đã mang tiền xuống Hà Nội trả cho bà.
Do đó, bà H, ông M1 yêu cầu bà H1 trả lại toàn bộ nhà, đất tại số B đường H, thành phố T, vì vợ chồng bà là người đã bỏ tiền ra mua nhà, đất nhờ bà H1 đứng tên hộ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H1 trình bày: Năm 2001, bà mua lại ngôi nhà của ông Q với giá 280.000.000 đồng. Sau khi nhận nhà bà có cho con gái ở một thời gian, khi con gái chuyển đi làm ở Hà Nội bà có cho anh S thuê. Về nguồn gốc số tiền mua nhà, thực tế lúc đó bà chỉ có 90.000.000 triệu đồng còn thiếu 190.000.000 đồng bà đã vay của bà H nhưng bà H không có tiền mặt, vì vậy cho bà vay bằng ngân phiếu. Số tiền vay này bà đã trả hết. Năm 2002, bà H hỏi mượn đất và nhà của bà để kinh doanh, do nể chỗ chị em lại cho bà vay tiền nên bà đã đồng ý. Khi xây, sửa chữa nhà xong bà H lại bảo không lên nữa nên có đặt vấn đề cho thuê lại để thu tiền sửa chữa và bà đã đồng ý. Do đó, bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Những người có quyền lợi liên quan trình bày:
- Ông Nguyễn Anh C (Chồng bà H1) trình bày: Ngôi nhà số B đường H, thành phố T là do bà Nguyễn Thị Thanh H1 (vợ ông) mua lại của vợ chồng anh chị Q1 với giá 280.000.000 đồng. Khi mua nhà vợ chồng Hằng M2 có cho vay tiền nhưng không biết cho vay bao nhiêu. Sau khi mua nhà, ông là người đến ở để trông nom được một thời gian mới cho chị H4 (là con gái) sang ở. Khi bán căn nhà cũ ông đã đưa tiền cho chị H4 mang xuống Hà Nội trả đủ cho vợ chồng bà H. Nay ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, ông M2.
- Ông Lê Hồng V trình bày: Vào khoảng tháng 3/2015 ông có mua 01 mảnh đất và tài sản gắn liền với đất là 184,1m² tại tờ bản đồ số 12, ở thửa 27 và thửa 34 và toàn bộ công trình trên đất tại phường Đ, thành phố T của ông Nguyễn Anh C và bà Nguyễn Thị Thanh H1 với giá theo thoả thuận và ông đã thanh toán tiền đầy đủ, ông đã nhận nhà đất và đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận QSD đất số BU 945881 vào năm 2015. Đến tháng 4 năm 2016 thì ông có chuyển nhượng nhà và đất này cho bà Lý Diệu T1, các bên có làm hợp đồng đúng theo quy định, ông V đã bàn giao nhà đất đầy đủ cho bà T1. Ông V xác định không có liên quan gì đến vụ án.
- Bà Lý Diệu T1 trình bày: Vào khoảng tháng 3 năm 2016 tôi có mua nhà và đất của ông Lê Hồng V, khi mua không biết đất đang có tranh chấp. Quá trình mua bán tôi và ông V có làm thủ tục chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật. Đến ngày 24/5/2016 tôi được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 72m² thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ số 12 và 112,1m² thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 12 mang tên tôi là Lý Diệu T1. Nay Bà H khởi kiện yêu cầu bà H1 phải trả lại toàn bộ diện tích và ngôi nhà cấp 4 mà tôi mua của ông V thì tôi không nhất trí trả lại vì diện tích đất và nhà vì tôi đang quản lý sử dụng hợp pháp.
- Ông Hoàng Anh T2 (Chồng bà T1) trình bày: Ông hoàn toàn nhất trí với lời khai của bà Lý Diệu T1 được ghi nhận trong hồ sơ vụ án. Nhà và đất bà T1 nhận chuyển nhượng từ ông V là hoàn toàn hợp pháp, nhà đất đứng tên vợ tôi là Lý Diệu T1, tôi xác nhận không liên quan gì đến vụ án này.
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên: Căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 56/2014/DSPT ngày 19/11/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Bản án sơ thẩm số 01/2012/DSST ngày 09/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, Chi cục THADS thành phố T đã ra Quyết định thi hành án chủ động số 656/QĐ-CCTHADS ngày 31/12/2014, cho thi hành án đối với: Bà Nguyễn Lệ H, sinh năm 1963 và ông Trương Văn M, sinh năm 1958. Đều trú tại: C, H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Phải liên đới nộp khoản án phí DSST 97.002.308 đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên là 50.000 đồng theo biên lai thu số 09917 ngày 10/10/2005. Quá trình tổ chức thi hành án, ngày 31/12/2014 Chi cục T đã thu được số tiền là 68.650.000 đồng (Biên lai thu số 0015606 ngày 31/12/2014) đã nộp ngân sách nhà nước. Số tiền bà H, ông M còn phải thi hành án là 28.352.308 đồng, Chi cục THADS thành phố T đã ra Quyết định uỷ thác số 66/QĐ-CCTHADS ngày 12/12/2015, uỷ thác cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tiếp tục thi hành án đối với bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M. Việc thu và nộp ngân sách nhà nước đối với khoản tiền trên đúng quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được xét xử lại, nếu bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M không phải nộp án phí, thì Toà án tuyên trả lại khoản tiền án phí đã nộp vào ngân sách nhà nước. Cơ quan thi hành án có thẩm quyền sẽ thi hành khoản hoàn trả (thoái thu tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước) theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Vụ án đã được Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý giải quyết từ năm 2009, cho đến nay đã qua nhiều lần, nhiều cấp xét xử, cụ thể:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2009/DSST ngày 27/7/2009, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M, buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 và ông Nguyễn Anh C phải trả lại diện tích 184,1m² đất (có số thửa 27, diện tích 72m²; thửa 34 diện tích 112,1m² tờ bản đồ số 12) và toàn bộ tài sản trên đất; Hủy hợp đồng thuê nhà giữa bà Nguyễn Thị Thanh H1 và Vũ Thị H9 ký ngày 30/11/2008; Buộc bà H, ông M có trách nhiệm trả cho bà H1 ông C 10 triệu đồng tiền thuê nhà.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 30/2010/DSPT ngày 28/5/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã hủy bản án sơ thẩm: Vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2012/DSST ngày 9/01/2012, Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M. Buộc bà H1 trả lại thửa đất và tài sản gắn liền với đất.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 43/2012/DSPT ngày 25/7/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử hủy bản án sơ thẩm trên vì chưa thu thập chứng cứ đầy đủ và bỏ sót người tham gia tố tụng.
Tại Quyết định kháng nghị số 525/2013/KNDS ngày 11/11/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm số 43/2012/DSPT ngày 25/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 133/2014 ngày 26/3/2014, Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy Bản án phúc thẩm số 43/2012/DSPT ngày 25/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và giao cho Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm lại vì cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ là không đúng.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 56/2014/DSPT ngày 19/11/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh H1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2012/DSST ngày 9/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thanh H1 trả cho bà Nguyễn Lệ H 68.600.000 đồng (sáu mươi tám triệu, sáu trăm nghìn đồng) chi phí tiền sửa chữa nhà.
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 22/2020/DS-GĐT ngày 31/5/2020 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định Huỷ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 56/2014/DSPT ngày 19/11/2014 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2012/DSST ngày 9/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Giao hồ sơ về Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm lại theo quy định. Với lý do Toà án cấp phúc thẩm cho rằng chưa đủ căn cứ để khẳng định bà H là người bỏ tiền ra mua nhà đất, nhờ bà H1 đứng tên trong giấy tờ mua bán là chưa đánh giá toàn diện, chính xác các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Mặt khác theo lời khai của bà H và các tài liệu kèm theo đơn đề nghị giám đốc thẩm thì sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, vợ chồng bà H1 đã chuyển nhượng nhà đất này cho người khác. Do đó, trong trường hợp này cần hủy cả bản án sơ thẩm, phúc thẩm để giải quyết sơ thẩm lại, đưa những người mua nhà đất tham gia tố tụng để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án sơ thẩm đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật: Cụ thể các hồ sơ cấp quyền và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà H1, ông V, bà T1 được lưu trữ tại các cơ quan chuyên môn và tiến hành thẩm định và định giá tài sản theo quy định.
Theo biên bản định giá của Hội đồng định giá UBND thành phố T ngày 22/9/2023 đã xác định giá trị đất ở tại đô thị là 184,1m2 x 26.400.000 đồng = 4.860.240.000 đồng; giá trị tài sản trên đất là nhà và công trình là: 266.317.600 đồng (Trong đó nhà xây cũ và sửa năm 2002 là 166.356.000 đồng, phần sửa chữa và làm mới là 99.961.600 đồng). Tổng giá trị tài sản tranh chấp là: 5.126.557.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DSST ngày 27/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
Áp dụng Điều 26; 35; 39; 143; 146; 147; 227; 228; 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 688 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 136 Luật đất đai năm 2003; Các Điều 95, 98, 99, 100; 203 Luật đất đai năm 2013. Điều 166; 221; 223; 678 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M về việc kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh H1.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 và ông Nguyễn Anh C phải liên đới thanh toán trả cho bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M số tiền 5.026.596.000 đồng (năm tỉ, không trăm hai mươi sáu triệu, năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng) là giá trị tài sản quyền sử dụng đất ở 184,1m² và nhà (Trong đó có diện tích 72m² thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ số 12 và 112,1m² thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 12, diện tích đất tại phường Đ, thành phố T).
- Bà Lý Diệu T1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận QSD đất và tài sản trên đất theo bản án và Quyết định của Toà án đối với diện tích 72m² thuộc thửa đất số 27 tờ bản đồ số 12 và 112,1m² thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 12, diện tích đất tại phường Đ, thành phố T.
- Án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 và ông Nguyễn Anh C phải liên đới nộp ngân sách nhà nước số tiền là 50.235.000 đồng (năm mươi triệu, hai trăm ba mươi năm nghìn đồng)
- Về chi phí tố tụng:
- Bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M được sở hữu số tiền 5.026.596.000 đồng (năm tỉ, không trăm hai mươi sáu triệu, năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng) do bà H1 và ông C thanh toán.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 và ông Nguyễn Anh C phải liên đới trả cho bà H và ông M số tiền thẩm định và định giá tài sản là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã Thi hành án cho bà Nguyễn Lệ H và ông Trương Văn M số tiền là 28.402.308 đồng (Hai mươi tám triệu, bốn trăm linh hai nghìn, ba trăm linh tám đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo.
Tại quyết định số 46/2024/QĐ-TA ngày 13/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã sửa chữa, bổ sung phần quyết định của bản án về tổng số tiền án phí sơ thẩm mà bị đơn phải chịu và trách nhiệm của Chi cục Thi hành án dân sự hoàn trả tiền bà H đã thi hành án.
Nội dung kháng cáo: Ngày 18/6/2024 bà Nguyễn Thị Thanh H1 là bị đơn trong vụ án kháng cáo yêu cầu huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, lý do:
- Toà án không triệu tập ông T2 chồng bà Lý Diệu T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông T2.
- Toà án sơ thẩm đưa ra nhiều kết luận không phù hợp với tài liệu, chứng cứ của vụ án gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.
- Toà án chưa thu thập tài liệu để tính công sức quản lý, tôn tạo, nâng cao giá trị tài sản cho bị đơn và người liên quan khác.
Quan điểm của các bên tại phiên tòa phúc thẩm: Tại phiên toà phúc thẩm đại diện nguyên đơn đồng ý với bản án sơ thẩm, không nhất trí với nội dung kháng cáo của bị đơn. Đại diện bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và có văn bản ghi ý kiến của bị đơn ngày 08/02/2025 gửi Hội đồng xét xử có nội dung đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn, huỷ bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật TTDS không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh H1 được gửi đến Tòa án trong hạn luật định, có hình thức phù hợp với quy định tại Điều 272 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà H1 đã nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H1 kháng cáo yêu cầu huỷ bản án dân sự sơ thẩm với 3 nội dung, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án lần lượt giải quyết từng nội dung như sau:
- Nội dung thứ nhất: Bị đơn kháng cáo cho rằng, Toà án không triệu tập ông T2 chồng bà Lý Diệu T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông T2.
Về nội dung này, trong các lời khai của bà Lý Diệu T1 và ý kiến của ông Hoàng Anh T2 xác định: Nhà và đất bà T1 nhận chuyển nhượng từ ông V là nhận chuyển nhượng thông qua giao dịch bằng tài sản riêng và Giấy CNQSD đất đứng tên riêng bà Lý Diệu T1.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, ...Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”. Ông T2 xác định không liên quan gì đến vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm không đưa ông T2 vào tham gia tố tụng là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm bà T1 không kháng cáo, ông T2 không có khiếu nại. Nội dung này không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn có kháng cáo, do vậy Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận.
- Nội dung thứ hai: Bà H1 cho rằng, Toà án sơ thẩm đưa ra nhiều kết luận không phù hợp với tài liệu, chứng cứ của vụ án gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, vợ chồng ông Q, bà H3 (người bán nhà đất) có các lời khai xác định: Người bỏ tiền ra mua nhà, đất là vợ chồng bà H, ông M; khi bà H1 đưa bà H sang xem nhà và đồng ý mua, bà H là người đặt cọc 20.000.000 đồng và hẹn ngày hôm sau sẽ trả nốt tiền. Ông đã nhận tiền và viết một giấy nhận đặt cọc đưa cho bà H giữ. Hôm sau là ngày 22/02/2001, vợ chồng bà H cùng bà H1 mang 260.000.000 đồng sang trả cho vợ chồng ông toàn bộ là tiền ngân phiếu mệnh giá mỗi tờ ngân phiếu là 500.000 đồng. Khi viết giấy tờ mua bán bà H có nói nhờ bà H1 là đứng tên hộ để thuận tiện cho việc làm thủ tục sau này vì bà H không có hộ khẩu tại Thái Nguyên. Vì vậy, tên người mua là bà Nguyễn Thị Thanh H1, người làm chứng là chị Trần Thị M1, chị Phạm Kim H5, giấy bán nhà chỉ viết một bản và giao cho bà H giữ. Về thời hạn giao nhà hai bên thỏa thuận là tháng 6/2001. Sau khi nhận đủ tiền ông đã giao toàn bộ giấy tờ nhà đất cho bà H.
Lời khai của bà Nguyễn Kiều H10, ông Nguyễn H11 là các anh chị em ruột của bà H, bà H1 đều thể hiện việc mua bán nhà và đất là do bà H mua và công khai ai cũng biết, đầu tiên mấy anh chị em bàn bạc định cùng nhau mua để xây siêu thị nhưng về sau thỏa thuận không thành nên nhường cho vợ chồng em gái là bà H mua, bà H1 cũng thường đi khoe và có giới thiệu bà H mua được mảnh đất rất đẹp.
Những người ký tên với tư cách người làm chứng trong giấy bán nhà ngày 22/02/2001 như chị M1, chị H5, anh H6 đều khai là không được trực tiếp chứng kiến việc giao tiền và viết giấy mua bán, khi mọi người sang làm chứng thì việc mua bán và giao nhận tiền đã xong, mọi người chỉ việc ký vào giấy mua bán đã viết sẵn.
Như vậy, lời khai của bà H, ông M1 phù hợp với lời khai của người làm chứng là ông Q, bà H3 về việc đặt cọc tiền mua nhà, về thời gian phương thức thanh toán và nội dung của việc viết giấy tờ mua bán, thời gian giao nhận nhà, việc giao nhận giấy tờ gốc của căn nhà và diện tích đất.
Về nguồn gốc số tiền mua nhà, đất tại số B đường H: Bà H, ông M1 xác định số tiền mua nhà 280.000.000 đồng là của vợ chồng ông M1, bà H. Tại các BL 136, 137 bà H1 khai nhận việc mua nhà, đất là mua chung với vợ chồng bà H. Trong tổng số tiền 280.000.000 đồng thì bà chỉ có 80.000.000 đồng, vợ chồng bà H có 200.000.000 đồng, vì bà là người có hộ khẩu tại Thái Nguyên nên đứng tên bên mua cho thuận tiện việc làm thủ tục sau này. Bà H1 khai vì bà mới mua ô tô của chị H5 (em gái ông Q) với giá 145.000.000 đồng nên thiếu tiền mua nhà đất nên phải vay của vợ chồng bà H 190.000.000 đồng để mua. Nhưng lời khai của chị H5, ông Q, bà H3, đều xác định sau khi ông Q bán nhà đất để chuyển đi Hà Nội thì ông Q mới bán xe ô tô cho chị H5 và sau đó chị H5 mới bán lại cho bà H1 chiếc xe này với giá 115.000.000 đồng. Khi mua xe bà H1 còn nợ lại 70.000.000 đồng. Bà H1 xuất trình cho Tòa án 01 giấy bán xe ghi ngày 08/02/2001 nhưng phần xác nhận của UBND phường Đ là ngày 10/10/2006. Như vậy, lời khai của bà H1 về nguồn gốc số tiền mua nhà không khách quan có nhiều mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn với lời khai của những người làm chứng là ông Q, bà H3.
Năm 2005, bà H đã làm đơn gửi Cục cảnh sát tố cáo về hành vi chiếm đoạt tài sản của bà H1. Tại Công văn số 2296/VKDTC-V1A ngày 25/8/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội xác định: “Có căn cứ xác định ngày 22/02/2001 vợ chồng bà H, ông M1 mua nhà của anh Q thửa đất 180m², giá 280 triệu ở B H. Do quan hệ gia đình, đồng thời hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên khi giao dịch mua bán nhà đất, đã giao cho bà H1 (chị ruột) đứng tên.".. Tại Công văn số 2474 ngày 20/8/2005 giải quyết đơn tố cáo của bà H về hành vi chiếm đoạt tài sản của bà H1 đã xác định: “Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh và đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất xác định: Nội dung sự việc trong đơn của chị là đúng tuy nhiên đây là tranh chấp nhà đất không thuộc thẩm quyền cơ quan điều tra”.
Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà giữa ông Q, bà H3 với bà H1, ông C thực chất là giao dịch phát sinh từ việc nhờ đứng tên hộ trên giấy CNQSD đất. Toà án cấp sơ thẩm đã thu thập tài liệu, chứng cứ và xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong các giao dịch dân sự là đúng quy định pháp luật. Do đó bị đơn kháng cáo nội dung nêu trên là không có cơ sở chấp nhận.
- Nội dung thứ ba: Nội dung kháng cáo cho rằng Toà án sơ thẩm chưa thu thập tài liệu để tính công sức quản lý, tôn tạo, nâng cao giá trị tài sản cho bị đơn và người liên quan khác. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quá trình quản lý, sử dụng tài sản sau khi mua: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện, bà H, ông M1 là người đứng ra thuê anh Trần Dương H7 thiết kế, thi công và sửa chữa lại nhà. Khi sửa chữa xong, đã cho vợ chồng anh B thuê để bán quần áo với thời hạn thuê là 3 năm, giá thuê là 2.500.000 đồng/tháng và thanh toán hàng tháng cho bà H. Sau khi anh B, chị H8 trả lại nhà, bà H đã thuê anh Lương Văn L sửa chữa lại hệ thống điện và anh Lê Văn S1 là người quét lại vôi ve của toàn bộ căn nhà để cho thuê tiếp. Hợp đồng sử dụng nước của căn nhà 275 đứng tên ông M1. Lời khai của bà H, ông M1 về quá trình sửa chữa, quản lý, sử dụng nhà đất sau khi mua phù hợp với lời khai của anh H7, anh L, anh S1 trình bày có trong hồ sơ vụ án. Quá trình giải quyết, bà H1 không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh bản thân bà hoặc người nào đó có công sức tôn tạo làm tăng giá trị sử dụng. Bà H1, ông C chiếm dụng, quản lý sử dụng nhà đất này không được bà H, ông M1 đồng ý, sau khi nhận chuyển nhượng, bà H đã cho thuê và sau đó năm 2004 hai bên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bà H đã nhiều lần yêu cầu bà H1 trả nhà đất cho mình nhưng bà H1 không trả dẫn đến việc bà H tố cáo đến cơ quan cảnh sát điều tra và sau này là khởi kiện ra Toà án. do vậy Toà án không có căn cứ áp dụng Án lệ số 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ. Do đó việc bà H1 yêu cầu tính công sức quản lý, tôn tạo, nâng cao giá trị tài sản cho bà H1 và người liên quan khác tại cấp phúc thẩm là không có căn cứ.
Với những phân tích nêu trên nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc bị đơn kháng cáo đề nghị huỷ bản án sơ thẩm là không có căn cứ, cần áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh H1 lẽ ra phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Nhưng do bà là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Thanh H1. Hoàn trả bà H1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp theo biên lai số 0002948 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Nguyễn Tất Thắng |
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 23/2025/DSPT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 23/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
