|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-ST.
Ngày: 30 – 5 - 2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
-
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Tiếp
Bà Nguyễn Thị Thưởng
-
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 30/5/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 72/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-DS ngày 08/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1987. Có mặt.
Địa chỉ: S đường N, phường Đ, thành phố T, tỉnh TH
-Bị đơn: 1. Anh Lê Quang A, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Nơi thường trú: Số A P, phường T, thành phố T, tỉnh TH;
Nơi ở hiện nay: Căn hộ A, chung cư X, phường Đ, thành phố T, tỉnh TH;
2. Chị Lê Thị Thùy L, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Nơi thường trú: Số A P, phường T, thành phố T, tỉnh TH;
Nơi ở hiện nay: N, Ngõ E H, phường Đ, thành phố T, tỉnh TH
- Người làm chứng Anh Văn Đức H, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Nơi thường trú; Số A T, phường Đ, thành phố T, tỉnh TH;
Nơi ở hiện nay: Số G, D, phường Q, thành phố T, tỉnh TH
Tại phiên tòa có mặt chị T; Vắng mặt anh Quang A, chị L và anh Văn Đức H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
Do anh Văn Đức H giới thiệu nên chị được biết vợ chồng anh Lê Quang A và chị Lê Thị Thùy L có bán căn hộ 1403 chung cư X, phường Đ, thành phố T với giá 800.000.000đồng. Chị và anh H đã thỏa thuận mỗi người đóng góp 400.000.000đồng để mua căn hộ trên. Ngày 20/10/2022 chị đã chuyển số tiền đặt cọc 400.000.000đ cho anh Quang A bằng hình thức chuyển khoản (số tài khoản của anh Quang A thì chị không nhớ). Còn việc anh H và anh Quang A và chị L thì chuyển tiền với nhau như thế nào thì chị T không nắm được. Sau khi nhận đủ tiền và viết giấy đặt cọc mua bán nhà đất thì anh Quang A và chị L cam kết sau 2 tháng sẽ sang tên căn hộ nêu trên cho chị T. Tuy nhiên đến hẹn anh Quang A và chị L đã không thực hiện đúng cam kết và cũng không trả lại số tiền đặt cọc cho chị và anh H có nhận trách nhiệm sẽ lấy lại số tiền đặt cọc từ anh Quang A và chị L cho chị. Đến ngày 22/12/2022 anh H đã giao cho chị số tiền 100.000.000đồng. Sau đó anh Quang A đã trả thêm cho chị được 98.000.000đồng. Số tiền còn lại là 202.000.000đồng đến nay anh Quang A và chị L vẫn chưa trả cho chị. Nay chị khởi kiện yêu cầu anh Quang A và chị L phải trả cho chị số tiền gốc còn thiếu là 202.000.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi đối với số tiền đó. Về Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đã ký giữa chị với anh Quang A và chị L chị đã giao bản gốc cho Công an thành phố T trong vụ án Văn Đức H bị khởi tố về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên không có để nộp cho Tòa án.
Ngày 08/5/2025 chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện: Rút yêu cầu buộc chị Thùy L phải có trách nhiệm trả nợ cùng với anh Quang A. Đề nghị Tòa án buộc anh Quang A phải trả số tiền còn lại 202.000.000 đông cho chị và không yêu cầu tính lãi.
* Tại bản tự khai ngày 16/4/2024 và quá trình giải quyết tại Tòa án, Bị đơn anh Lê Quang A trình bày:
Ngày 20/10/2022 anh Lê Quang A và chị Lê Thị Thùy L có viết hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất với chị Lê Thị T để chuyển nhượng cho chị T căn hộ 1403 chung cư X, phường Đ, thành phố T. Chị T đã chuyển vào tài khoản cho anh Quang A số tiền đặt cọc là 400.000.000đ, số tài khoản 0373956886 tại Ngân hàng M. Hai bên thỏa thuận trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày 20/10/2022 vợ chồng anh và chị L sẽ làm thủ tục sang tên căn hộ nêu trên cho chị T. Tuy nhiên đến hạn anh và chị L không thực hiện đúng cam kết. Sau đó anh Quang A có đưa cho anh H 100.000.000 đồng để trả lại cho chị T và anh đã trả thêm cho chị T 98.000.000đồng. Đến nay anh còn nợ lại chị T số tiền 202.000.000đồng. Toàn bộ số tiền đặt cọc của chị T anh dùng vào việc riêng không liên quan đến chị L và chị L không biết anh sử dụng vào việc gì. Nay chị T Khởi kiện yêu cầu anh và chị L trả cho chị T số tiền 202.000.000đồng thì anh nhận trách nhiệm trả cho chị T số tiền này, tuy nhiên hiện nay anh đang gặp khó khăn về kinh tế nên đề nghị chị T cho anh được trả nợ dần 2-3 triệu /tháng.
Phía dưới Hợp đồng mua bán có ghi “Ngày 20/10 tôi đã nhận đủ 700.000.000₫ và ngày 21/10 anh H chuyển nốt cho tôi 100.000.000đ (tổng 800.000.000đồng)” là quan hệ giữa anh Quang A và anh Văn Đức H không liên quan đến chị T.
Bản Hợp đồng mua bán nhà đất ngày 20/10/2022 bản photo mà chị T cung cấp cho Tòa án là bản hợp đồng do anh Quang A viết và ký, bản gốc do chị T giữ. Trong vụ án này chị Lê Thị Thùy L là vợ anh Quang A và anh Văn Đức H không liên quan gì cũng như không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án vì vậy đề nghị Tòa an không đưa chị L và anh H vào tham gia tố tụng và anh Quang A có trách nhiệm trả nợ số tiền 202.000.000đ cho chị T
* Tại bản tự khai ngày 06/5/2025, Bị đơn chị Lê Thị Thùy L trình bày:
Khoảng tháng 10/2022 anh Lê Quang A có nhu cầu cần tiền, thông qua anh Văn Đức H đã thỏa thuận với chị Lê Thị T về việc bán căn hộ chung cư X C phường Đ, thành phố T
Ngày 20/10/2022 chị L và anh Lê Quang A (lúc đó đang còn là vợ chồng) có ký kết hợp đồng đặt cọc mua bán căn hộ nói trên với chị T. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, chị T đã chuyển tiền vào tài khoản của anh Lê Quang A, anh Quang A sử dụng toàn bộ số tiền đó đẻ giải quyết công việc riêng, bản thân chị không được sử dụng và cũng không được biết đến số tiền đó. Sau đó anh Quang A có liên quan đến vụ án hình sự do anh Văn Đức H đã bị Tòa án nhân dân thành phố TH xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc thì chị không còn liên hệ gì với chị T cũng như không được sử dụng và không biết gì về số tiền chị T đặt cọc. Sau này việc anh Quang A và chị T trao đổi về việc trả lại tiền như thế nào thì chị L không biết. Khoảng tháng 3/2023 chị L và anh Lê Quang A đã ly hôn đến nay không còn liên quan đến nhau. Nay chị T khởi kiện yêu cầu chị L và anh Quang A phải trả cho chị số tiền còn nợ 202.000.000đ thì quan điểm của chị L như sau: Bản thân chị L không được biết, không được sử dụng và không liên quan đến số tiền chị T đưa, các thỏa thuận giữa chị T và anh Quang A, chị L cũng không liên quan nên chị L không có trách nhiệm trả nợ. Bản thân anh Quang A trong quá trình giải quyết cũng xác nhận và thừa nhận là anh sẽ có trách nhiệm trả nợ số tiền 202.000.000₫ cho chị T và không liên quan gì đến chị L. Do vậy chị L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và không buộc trách nhiệm trả nợ cho chị L.
Chị L thừa nhận tại Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 20/10/2022 bản photo mà chị T đã cung cấp cho Tòa án có chữ ký và chữ viết của chị L.
Người làm chứng anh Văn Đức H trình bày: Trong năm 2022, anh nhiều lần cho anh Lê Quang A vay tiền do có mối quan hệ quen biết từ trước. Đến tháng 10/2022 anh giới thiệu chị Lê Thị T với vợ chồng Lê Quang A và Lê Thị Thùy L. Hai bên có viết hợp đồng đặt cọc mua bán nhà theo đó vợ chồng Quang A và Thùy L chuyển nhượng cho chị T căn chung cư 1403 CT2 Chung cư X phường Đ, thành phố T với giá 800.000.000đ, anh và chị T có thỏa thuận với nhau mỗi người đóng góp 400.000.000đ để mua căn hộ nói trên. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc chị T đã chuyển cho anh Quang A 400.000.000đ chuyển tiền bằng hình thức nào thi anh không rõ sau đó anh Quang A và chị L không thực hiện việc chuyển nhượng nhà như đã cam kết. Anh Quang A có chuyển lại cho anh 100.000.000đ để trả lại tiền đặt cọc cho chị T và anh đã giao lại cho chị T số tiền đó. Sau đó anh bị khởi tố và bị xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên không rõ chị T và vợ chồng Quang A đã giải quyết vụ việc trên như thế nào.
Do việc chuyển nhượng nhà không được thực hiện nên anh và chị T cũng không thực hiện việc góp tiền mua nhà như thỏa thuận ban đầu. Còn việc đặt cọc giữa 2 bên và giải quyết như thế nào thì anh không liên quan. Anh xác nhận chữ ký và chữ viết trong mục người làm chứng tại Hợp đồng (bản photo) do chị T xuất trình là của anh và thực tế 2 bên đã viết và ký vào hợp đồng đặt cọc đó.
Nay chị T khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Quang A và chị L phải trả số tiền cọc còn lại thì anh không có ý kiến gì.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Thanh khởi K yêu cầu anh Lê Quang A và chị Lê Thị Thùy L có nơi cư trú tại Thành phố T, tỉnh TH thực hiện nghĩa vụ trả lại số tiền đã đặt cọc mua nhà nhưng không thực hiện được việc mua bán là tranh chấp hợp đồng đặt cọc. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TH.
[1.2]. Về tư cách người tham gia tố tụng: Đối với anh Văn Đức H: quá trình đặt cọc do có quan hệ quen biết nên anh có ký vào Hợp đồng với tư cách người làm chứng. Mặc dù có việc trao đổi giữa chị T và anh về việc: nếu mua chung cư thì mỗi người góp 1 nửa, nhưng sau đó việc đóng góp chưa được thực hiện. Tại phiên tòa chị T cũng trình bày: khi đó chị và anh H có trao đổi nhưng mới chỉ là trao đổi bằng lời nói, anh H chưa góp bất cứ khoản tiền nào, toàn bộ khoản tiền đã đặt cọc 400.000.000đ cho anh Quang A đều là tiền của riêng chị. Sau khi việc mua bán không thực hiện được, anh Quang A có đưa cho anh H 100.000.000đ nhờ giao lại cho chị T và anh H đã giao đủ cho chị T, từ đó anh H không biết thông tin gì về vụ việc liên quan. Xác đinh anh H không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên không xác định tư cách tố tụng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T:
[2.1].Về nghĩa vụ trả tiền:
Mặc dù chị T không xuất trình được bản gốc Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất vì lý do theo chị trình bày là đã nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố T trong quá trình điều tra vụ án hình sự có liên quan đến anh Văn Đức H. Nhưng quá trình giải quyết, anh Quang A, chị L và anh Văn Đức H đều thừa nhận nội dung, chữ viết và chữ ký trong bản photo Hợp đồng do chị T giao nộp có trong hồ sơ là thật và là chữ ký chữ viết của các đương sự. Anh Quang A, chị L và anh Văn Đức H đều thừa nhận việc đặt cọc mua nhà chung cư, việc không thể thực hiện chuyển nhượng và đã trả lại tiền đặt cọc như chị T trình bày.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: năm 2022 chị Lê Thị T có đặt cọc để mua căn hộ chung cư X C phường Đ, thành phố T của anh Lê Quang A và chị Lê Thị Thùy L. Khi thỏa thuận đặt cọc hai bên đã cùng viết một Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất và chị T đã giao đủ số tiền đặt cọc là 400.000.000đ cho anh Quang A. Đến thời hạn chuyển nhượng như đã thỏa thuận khi đặt cọc, thì anh Quang A và chị L không thực hiện.
Sau đó anh Quang A đã trả lại tiền cho chị T: lần 1 nhờ anh Văn Đức H trả 100.000.000₫ và lần 2 anh Quang A trả 98.000.000₫ . Tổng số tiền đã trả là 198.000.000đ, số tiền còn nợ lại là 202.000.000đ.
Nay chị T khởi kiện yêu cầu anh Quang A phải trả lại số tiền đặt cọc còn nợ 202.000.000đ và không yêu cầu tính lãi là có cơ sở để chấp nhận.
[2.2]. Về lãi suất: Chị Lê Thị T không buộc anh Lê Quang A phải trả lãi trên số tiền còn nợ. Xét thấy chị Lê Thị Thanh tự N, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3]. Đối với chị Lê Thị Thùy L: Quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị T đã rút yêu cầu buộc chị phải chịu trách nhiệm trả nợ cùng anh Quang A. Ngoài ra chị L cũng như anh Quang A đều trình bày: số tiền đặt cọc của chị Lê Thị Thanh C cho cá nhân anh Quang A và do một mình anh Quang A sử dụng không liên quan gì đến chị L nên có đủ cơ sở xác định trách nhiệm trả số tiền còn nợ là của anh Quang A và không buộc chị L cùng chịu trách nhiệm. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị T là hoàn toàn tự nguyên, do đó cần phải đình chỉ đối với yêu cầu này.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T được chấp nhận nên buộc anh Quang A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 235, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 422 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm b, tiểu mục 1.3 mục 1, phần II danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh đối V yêu cầu: buộc chị Lê Thị Thùy L phải trả lại số tiền đặt cọc.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T:
Buộc anh Lê Quang A phải trả cho chị T.số tiền đặt cọc còn lại là: 202.000.000 đồng (hai trăm lẻ hai triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí:
Anh Lê Quang A phải nộp 10.100.000đ (mười triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho chị T số tiền tạm ứng án phí 5.050.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001097 ngày 02/01/2024
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ninh Thị Khánh Tân |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ 00 phút, ngày 24/4/2024
Tại: Trụ sở Toà án nhân dân thành phố TH
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thưởng
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 34/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Chữ, sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn 3, Đình Xuyên, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
-Bị đơn: Bà Đỗ Thị Quyên, sinh năm 1985
Địa chỉ thường trú: Số 129, Lý Thái Tông, phường Đông Thọ, thành phố TH, tỉnh TH.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
1. Về điều luật áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 235; Điều 264; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm b, tiểu mục 1.3 mục 1, phần II danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chữ.
Buộc bà Đỗ Thị Quyên phải trả cho bà Chữ số tiền gốc còn nợ là 145.000.000đ (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: bà Đỗ Thị Quyên phải nộp 7.250.000đ (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Chữ số tiền tạm ứng án phí: 4.375.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0002890 ngày 06/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%
Nghị án kết thúc vào hồi giờ 30 phút, ngày 15 tháng 6 năm 2023.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 23/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị T khởi kiện Anh Lê Quang A đòi nợ
