Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/DS-ST

Ngày: 25/3/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Diễm Anh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và bà Lê Thị Đông Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 155/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Ngô Thị C, sinh năm 1940; Địa chỉ: 5 L, khu phố L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
  2. Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1980; Địa chỉ: 5 L, khu phố L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

  3. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963; Địa chỉ: 5 L, khu phố L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

- Bị đơn:

Ông Nguyễn Ngọc M1, sinh năm 1965; Địa chỉ: 5 L, khu phố L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1970; Địa chỉ: 5 L, khu phố L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965; Địa chỉ: khu phố P, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  3. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969; Địa chỉ: 5 L, khu phố L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  4. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; Địa chỉ: khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  5. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1980; Địa chỉ: 5 L, khu phố L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, đồng nguyên đơn Ngô Thị C (do bà Nguyễn Thị M đại diện theo uỷ quyền) và ông Nguyễn Văn T trình bày như sau:

Vợ chồng ông Nguyễn T1 (chết năm 2019), bà Ngô Thị C có quản lý, sử dụng thửa đất số 17, tờ bản đồ D4-I-c-a, địa chỉ tại 5 L, phường H (nay là phường B), thành phố T. Nguồn gốc đất do cha mẹ ông Nguyễn T1 để lại cho ông bà quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1969 đến nay, không ai tranh chấp. Đến năm 1996 thì ông Nguyễn T1 kê khai, có tên trên bản đồ địa chính là chủ sử dụng đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ D4-I-c-a với diện tích 270,3m², loại đất ODT theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 1996.

Sau đó thì ông Nguyễn T1, bà Ngô Thị C cho con trai là Nguyễn Văn T phần diện tích khoản 101m² để cất nhà ở ổn định từ đó đến nay. Nên từ kỳ chỉnh lý đo đạc bản đồ địa chính tiếp theo vào năm 2004 thì thửa đất số 17 tách thành 2 thửa số 10, 11 thuộc tờ bản đồ số 16, do bà Ngô Thị C và ông Nguyễn Văn T kê khai, sử dụng.

Vợ chồng ông T1, bà C có tất cả 05 người con, gồm: Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị M. Thời điểm ông T1 phân chia đất cho ông T thì tất cả gia đình đều đồng ý không tranh chấp. Năm 2019 thì ông Nguyễn T1 chết, bà Ngô Thị C còn sống tại thửa đất trên với các con.

Từ năm 2004 đến nay khi gia đình làm thủ tục để được công nhận quyền sử dụng đất thì liên tục bị vợ chồng ông Nguyễn Ngọc M1, bà Ngô Thị H cản trở. Ông M1 yêu cầu phải chia phần diện tích 7mx19m để làm sân chung giữa ba nhà ông Nguyễn Ngọc M1, bà Ngô Thị C, ông Nguyễn Văn T.

Do đó, nguyên đơn Ngô Thị C và Nguyễn Văn T có yêu cầu khởi kiện như sau:

  • Yêu cầu Toà án xác định phần diện tích sân chung, đường đi chung theo hiện trạng do nguyên đơn chỉ dẫn tại bảng vẽ ngày 01/12/2022 do Công ty TNHH Đ thực hiện.
  • Công nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị C đối với thửa đất số 10 và của ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 16; địa chỉ tại khu phố L, phường B, thành phố T. Đồng thời buộc vợ chồng ông M1, bà H phải chấm dứt hành vi cản trở bà C, ông M1 thực hiện quyền của chủ sử dụng đất.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Ngọc M1 trình bày như sau:

Gia đình nguyên đơn và bị đơn có mối quan hệ họ hàng. Phần đất hai bên sử dụng đều có nguồn gốc của ông bà để lại. Trong đó ông Nguyễn Ngọc M1 sử dụng thửa đất số 9, tờ bản đồ số 16, địa chỉ tại 5 L, phường H (nay là phường B), thành phố T. Gia đình hai bên sử dụng ổn định từ xưa đến nay không có ai tranh chấp. Do đó nguyên đơn trình bày về nguồn gốc đất là đúng, bị đơn không có ý kiến gì.

Tuy nhiên, từ thời ông bà cha mẹ hai bên sử dụng đất tới nay thì giữa phần diện tích đất của hai bên có 01 phần diện tích sân chung là ngang 7m dài 19m. Do đó khi gia đình ông T, bà C đi làm sổ mà kê khai luôn phần diện tích sân chung nên bị đơn mới cản trở. Mặc dù giữa hai bên không có bảng vẽ đo đạc và biên bản xác định diện tích sân chung nhưng việc này đều được hai bên thừa nhận và sử dụng lâu dài. Đến năm 2010 khi tranh chấp ra phường thì phần sân chung 7m x 19m đã được ông Nguyễn T1 và ông Nguyễn Văn T thống nhất tại biên bản hoà giải ngày 13/01/2010 của Ủy ban nhân dân phường H2.

Nay bị đơn đề nghị Toà án giải quyết, xác định diện tích sân chung, đường đi chung là 7mx19m, phần đất sử dụng còn lại của mỗi bên tự đi đăng ký kê khai và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:

Các ông bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị M: Thống nhất theo ý kiến của nguyên đơn.

Bà Ngô Thị H: Thống nhất theo ý kiến của bị đơn.

Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu HĐXX công nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn Ngô Thị C đối với thửa đất số 10 và của nguyên đơn Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 16; địa chỉ tại khu phố L, phường B, thành phố T. Đồng thời xác định diện tích sân chung và đường đi chung theo chỉ dẫn của nguyên đơn, buộc bị đơn phải chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn thực hiện quyền của chủ sử dụng đất.
  • Đại diện VKSND thành phố Tuy Hòa phát biểu quan điểm:
    • Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.
    • Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 135 Luật Đất đai năm 2003; Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đề nghị:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị C, ông Nguyễn Văn T. Công nhận phần diện tích sử dụng chung và đường đi chung của 3 thửa đất số 9, 10, 11, tờ bản đồ 16 là 61,78m², hiện trạng theo chỉ dẫn của nguyên đơn tại Bảng trích đo hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH Đ thực hiện ngày 01/12/2022.

Bà Ngô Thị C được quyền sử dụng đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 16 đo đạc năm 2004, địa chỉ tại khu phố L, phường B, thành phố T và ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 16 đo đạc năm 2004, địa chỉ tại khu phố L, phường B, thành phố T sau khi trừ đi phần diện tích sân chung 61,78m² và quy hoạch đất giao thông. Bà C, ông T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định diện tích sân chung, đường đi chung và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn nên là tranh chấp về quyền sử dụng đất, bị đơn có nơi cư trú và bất động sản ở tại thành phố T, tỉnh Phú Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất:

Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2022 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà xác định: Tại vị trí đất các bên đang tranh chấp, hiện trạng gồm 03 thửa đất là thửa số 9, 10, 11, tờ bản đồ số 16 đo đạc năm 2004, địa chỉ tại khu phố L, phường B, thành phố T.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thống nhất trình bày: Nguồn gốc đất của 03 thửa 9, 10, 11, tờ bản đồ địa chính số 16 đo đạc năm 2004 là do ông bà để lại, cha mẹ các bên sử dụng ổn định từ 1969 đến nay không có ai tranh chấp. Giữa nguyên đơn và bị đơn chỉ tranh chấp về diện tích sân chung, ngoài ra không có ai tranh chấp quyền sử dụng đất với nguyên đơn.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường H2 và Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh P về quá trình kê khai, sử dụng đất, thể hiện:

Năm 1996 ông Nguyễn T1 kê khai, có tên trên bản đồ địa chính là chủ sử dụng với thửa đất số 17, tờ bản đồ D4-I-c-a với diện tích 270,3m², loại đất ODT.

Cùng thời điểm đó, vợ chồng ông Nguyễn T1, bà Ngô Thị C chia cho con trai là ông Nguyễn Văn T phần diện tích khoản 101m² nên đến kỳ đo đạc bản đồ tiếp theo vào năm 2004 thì thửa đất nói trên tách thành hai thửa:

  • - Thửa số 10, tờ bản đồ địa chính số 16, diện tích 170,8m², loại đất ODT do bà Ngô Thị C đứng tên kê khai chủ sử dụng đất.
  • - Thửa số 11, tờ bản đồ địa chính số 16, diện tích 100,9m², loại đất ODT do ông Nguyễn Văn T đứng tên kê khai chủ sử dụng đất.

Căn cứ kết quả xác minh tại Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố T ngày 09/01/2025 về thông tin quy hoạch sử dụng đất, đối chiếu với bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất (Ban hành kèm theo Quyết định số 785/QĐ-UBND ngày 23/6/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh P về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của thành phố T) thì có cơ sở xác định việc sử dụng các thửa đất nói trên là phù hợp quy hoạch đất ở tại đô thị.

Căn cứ Đơn xin xác nhận quyền sở hữu chủ nhà ở được UBND phường B xác nhận ngày 05/6/1995, UBND thị xã T xác nhận ngày 27/3/1996 và Đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất được UBND phường H2 xác nhận ngày 03/10/2008 thì có cơ sở xác định ông Nguyễn T1, bà Ngô Thị C, ông Nguyễn Văn T đã sử dụng đất ổn định trong thời gian dài, không có ai tranh chấp và không vi phạm pháp luật đất đai. Thuộc trường hợp cá nhân đang sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vi phạm pháp luật đất đai, không có tranh chấp và sử dụng phù hợp với quy hoạch. Do đó nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 10, 11 là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về xác định diện tích sân chung, đường đi chung:

Căn cứ hồ sơ kỹ thuật thửa đất và tờ bản đồ D4-I-c-a lập năm 1996 thì từ thời điểm kê khai đất vào năm 1996, hiện trạng giữa 2 thửa đất số 22 (nay là thửa số 9 do ông Nguyễn Ngọc M1 sử dụng) và thửa đất số 17 (nay là thửa số 10,11 do bà Ngô Thị C, ông Nguyễn Văn T sử dụng) đã có đường đi chung, nhưng không có thể hiện diện tích sân chung.

Căn cứ kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ đối với hiện trạng sử dụng đất thực tế hiện nay thì đường đi chung có diện tích là 40,78m². Đối với phần diện tích sân chung theo chỉ dẫn của nguyên đơn có diện tích là 21m². Hiện trạng phần sân chung theo chỉ dẫn của nguyên đơn là phù hợp với hiện trạng mặt bằng nhà đất được Phòng xây dựng thị xã T đo vẽ, phù hợp với hiện trạng thực tế các bên đang sử dụng. Căn cứ theo bản đồ địa chính thì phần diện tích sân chung thuộc thửa số 10 do bà Ngô Thị C kê khai (thửa cũ là thửa số 17 do ông Nguyễn T1 kê khai). Nguyên đơn tự nguyện dùng phần diện tích thuộc quyền sử dụng của mình để làm sân chung mà không yêu cầu bị đơn phải bồi hoàn giá trị là hoàn toàn tự nguyện nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng diện tích sân chung là 7mx19m: Trên phần sân chung do bị đơn chỉ dẫn tồn tại tài sản, hàng rào do nguyên đơn sử dụng, do đó ý kiến của bị đơn cho rằng diện tích sân chung đã được hai bên cùng sử dụng từ thời ông bà cha mẹ là không có cơ sở. Tài liệu do bị đơn cung cấp để chứng minh diện tích sân chung là Biên bản hoà giải ngày 13/01/2010 của Ủy ban nhân dân phường H2, thành phố T. Tuy nhiên biên bản hoà giải không đảm bảo đúng thành phần, thủ tục hoà giải cơ sở về đất đai theo quy định tại Luật đất đai năm 2003. Tại biên bản chỉ có ông Nguyễn T1 có ý kiến, không có ý kiến của bà Ngô Thị C. Sau khi hoà giải, chính quyền cùng hai bên cũng không tiến hành đo vẽ, xác định ranh giới để xác định diện tích sân chung. Căn cứ theo bảng vẽ thì phần diện tích sân chung theo chỉ dẫn của bị đơn có tổng diện tích là 80,94m²; trong đó chiếm diện tích thuộc thửa số 10 của bà Ngô Thị C là 21 + 31,67 = 52,67m², chiếm diện tích thuộc thửa số 11 của ông Nguyễn Văn T là 28,27m². Phần diện tích này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, không được nguyên đơn chấp nhận sử dụng chung. Ngoài ra bị đơn không cung cấp được tài liệu nào khác thể hiện phần diện tích sân chung là 7x19m nên ý kiến của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những đánh giá nêu trên, HĐXX nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về chi phí thẩm định, đo đạc, định giá tài sản:

Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí thẩm định, đo đạc bằng máy, định giá tài sản là 15.000.000 đồng, đã nộp tạm ứng nên thi hành xong.

[4] Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 138 Luật Đất đai năm 2024.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Thị C, Nguyễn Văn T.

Công nhận diện tích sân chung là 21m² (tại các điểm toạ độ 17-18-19-20-30) và đường đi chung diện tích là 40,78m² (tại các điểm toạ độ 12-13-14-15-16-17-30-21-22), có hiện trạng theo chỉ dẫn của nguyên đơn tại Mảnh đo đạc hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH Đ thực hiện ngày 01/12/2022.

Công nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị C đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 16 (đo đạc năm 2004), địa chỉ tại khu phố L, phường B, thành phố T; có giới cận: phía Đông giáp nhà đất ông Nguyễn Văn T; phía Tây giáp nhà đất ông Nguyễn Ngọc M1 và sân chung; phía Nam giáp sân chung, đường đi chung; phía Bắc giáp nhà đất ông Trần T2, bà Trần Thị R (Hiện trạng theo Mảnh đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 01/12/2022 của Công ty TNHH Đ).

Công nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 16 (đo đạc năm 2004), địa chỉ tại khu phố L, phường B, thành phố T; có giới cận: phía Đông giáp đường giao thông bê tông; phía Tây giáp nhà đất bà Ngô Thị C; phía Nam giáp đường đi chung; phía Bắc giáp nhà đất ông Trần T2, bà Trần Thị R. (Hiện trạng theo Mảnh đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 01/12/2022 của Công ty TNHH Đ).

Bà Ngô Thị C và Ông Nguyễn Văn T được quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nói trên theo quy định pháp luật.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc M1, bà Ngô Thị H phải chấm dứt hành vi cản trở bà Ngô Thị C, ông Nguyễn Văn T thực hiện quyền của chủ sử dụng đất .

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản: Áp dụng Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Ngô Thị C, Nguyễn Văn T tự nguyện chịu chi phí thẩm định, đo đạc bằng máy, định giá tài sản là 15.000.000₫ (mười lăm triệu đồng), đã nộp tạm ứng nên thi hành xong.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn Nguyễn Ngọc M1 phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho nguyên đơn Ngô Thị C số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007677 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà. H1 lại cho nguyên đơn Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007678 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án DS TP. Tuy Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Diễm Anh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân

Phan Thị Oanh Lê Thị Đông N1

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Lê Diễm Anh T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 23/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger