TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-ST
Ngày 25/3/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Quang Thanh
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Ngô Rạng Đông
- 2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang: Ông Lê Minh Dũng – Kiểm sát viên
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 602/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H
Trụ sở: B N, phường B, Quận A, Tp ..
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Huỳnh Thái H – Chức vụ: Giám Đốc H2 chi nhánh P.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Hà Minh T1, sinh năm 1990, chức vụ: Trưởng bộ phận khách hàng cá nhân và ông Nguyễn Minh M, sinh năm 1994, chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân.
Ông T1, ông M có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ H1, sinh năm 1981
Địa chỉ: Số A, Đường C, Khu phố A, phường D, Tp ., tỉnh Kiên Giang.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam C, tỉnh Cà Mau.
Bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn - Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H trình bày:
* Ngày 01/10/2018, bà Huỳnh Thị Mỹ H1 ký hợp đồng tín dụng số 23081/18MN/HĐTD với ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H để vay số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), thời hạn vay là 240 tháng, lãi suất vay thay đổi theo từng thời kỳ. Bà H1 được ngân hàng giải ngân hết toàn bộ số tiền trên.
Ngày 17/05/2021, bà H1 ký tiếp giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (MasterCard) số 5151311111859556 với hạn mức tín dụng 200.000.000 đồng. Bà H1 đã sử dụng tiền trong thẻ nên hiện số tiền gốc trong thẻ còn lại là 82.772.812 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng nêu trên: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thửa số 135, tờ bản đồ số 120, toạ lạc tại khu phố E, phường D, P, Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 156395 do UBND huyện P cấp ngày 03/09/2015 cấp cho bà Huỳnh Thị Mỹ H1 theo hợp đồng thế chấp số 18885/18MN/HĐBĐ ngày 01/10/2018.
Quá trình sử dụng vốn vay và thẻ tín dụng, Bà Huỳnh Thị Mỹ H1 chỉ thanh toán được một phần nghĩa vụ trả nợ, sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như hợp đồng. Vì vậy ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ H1 phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền: 2.853.112.248 đồng, gồm tiền nợ gốc, tiền lãi và các khoản phí phát sinh tính đến ngày 25/03/2025, trong đó:
- Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 23081/18MN/HĐTD ngày 01/10/2018 tính đến ngày 25/3/2025 là 2.644.059.163 đồng (trong đó nợ gốc 2.241.105.990 đồng và nợ lãi là 402.953.173 đồng);
- Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 5151311111859556 tính đến ngày 25/3/2025 là 209.053.085 đồng (trong đó nợ gốc 82.772.812 đồng, nợ lãi và các khoản phí là 44.436.381 đồng);
Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ H1 phải thanh toán phần nợ lãi và phí sử dụng thẻ tín dụng phát sinh đối với số nợ còn lại theo lãi suất thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và đề nghị mở thẻ tín dụng từ ngày 25/03/2025 đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Trường hợp bà H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thửa số 135, tờ bản đồ số 120, toạ lạc tại khu phố E, phường D, P, Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 156395 do UBND huyện P cấp ngày 03/09/2015 cấp cho bà Huỳnh Thị Mỹ H1.
Trích biên bản lấy lời khai ngày 13/12/2024 của bà Huỳnh Thị Mỹ H1:
Năm 2018, bà H1 có vay ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H khoản vay 3.000.000.000 đồng và sau đó bà H1 có đăng ký và sử dụng 01 thẻ tín dụng của ngân hàng với hạn mức 200.000.000 đồng. Bà H1 đã sử dụng hết các khoản vay này và cũng đã trả nhiều lần tiền cho ngân hàng nhưng số tiền đã trả bao nhiêu thì bà H1 không nhớ. Bà H1 có thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thửa số 135, tờ bản đồ số 120, toạ lạc tại khu phố E, phường D, P, Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 156395 do UBND huyện P cấp ngày 03/09/2015 cấp cho bà Huỳnh Thị Mỹ H1 để bảo đảm khoản vay trên. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H1 trả tiền thì bà đồng ý trả nhưng vì hiện đang chấp hành án tại Trại giam C nên không có tiền để trả và đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho ngân hàng. Bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc có ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đúng. Về thành phần Hội đồng xét xử đúng với quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Đại diện nguyên đơn là ông Hà Minh T1 và ông Nguyễn Minh M, bị đơn Huỳnh Thị Mỹ H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông T1, ông M, bà H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H đối với bà Huỳnh Thị Mỹ H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H1 có địa chỉ cư trú tại số A Đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, Điều 26; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự có mặt các đương sự:
Đại diện nguyên đơn là ông Hà Minh T1 và ông Nguyễn Minh M, bị đơn Huỳnh Thị Mỹ H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông T1, ông M, bà H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng đối với bà Huỳnh Thị Mỹ H1 về việc yêu cầu trả nợ gốc và tiền lãi, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Huỳnh Thị Mỹ H1 ký với ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H hợp đồng tín dụng số 23081/18MN/HĐTD ngày 01/10/2018, và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cá nhân ngày 17/05/2021 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức. Theo hợp đồng hợp đồng tín dụng số 23081/18MN/HĐTD ngày 01/10/2018 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/05/2021, các bên có thỏa thuận về mức vay, hạn mức tín dụng, thời hạn vay và sử dụng thẻ, thời gian phương thức trả tiền vốn gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, biểu phí sử dụng thẻ và phạt vi phạm phù hợp với quy định của pháp luật về lãi suất và luật các tổ chức tín dụng. Ngân hàng đã giải ngân số tiền 3.000.000.000 đồng và cấp thẻ tín dụng số 5151311111859556 cho bà Huỳnh Thị Mỹ H1 sử dụng.
Nay bà H1 thừa nhận đã sử dụng tiền trong thẻ tín dụng số 5151311111859556 và còn nợ tiền ngân hàng theo hợp đồng tín dụng 01/10/2018, qua xem xét bản chiết tính thu nợ vay do ngân hàng cung cấp xác định từ tháng 11/2023, bà Huỳnh Thị Mỹ H1 không trả vốn gốc và tiền lãi cho ngân hàng theo thoả thuận trong hợp đồng, sau đó không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và phí hàng tháng cho ngân hàng đến nay. Do đó, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và vi phạm thoả thận trong hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử xét thấy ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Mỹ H1 phải trả số tiền 2.853.112.248 đồng, gồm tiền nợ gốc, tiền lãi và các khoản phí phát sinh tính đến ngày 25/03/2025, tiền lãi trên số tiền nợ gốc và các khoản phí phát sinh theo 02 hợp đồng sau ngày 25/03/2025 đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp thuận.
[2.2] Đối với tài sản thế chấp:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thửa số 135, tờ bản đồ số 120, toạ lạc tại khu phố E, phường D, P, Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 156395 do UBND huyện P cấp ngày 03/09/2015 cho bà Huỳnh Thị Mỹ H1 đã được Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, qua kiểm tra xem xét hiện trạng, xác định thửa đất không bị tranh chấp. Đây là tài sản bảo đảm cho khoản vay của bà Huỳnh Thị Mỹ H1 tại ngân hàng, tuy nhiên bà Huỳnh Thị Mỹ H1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền và vi phạm các thoả thuận trong hợp đồng thế chấp mà các bên ký kết ngày 01/10/2018. Do đó yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bà Huỳnh Thị Mỹ H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Huỳnh Thị Mỹ H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 2.853.112.248 đồng 89.062.200 đồng (tám mươi chín triệu không trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được chấp nhận nên ngân hàng không phải chịu án phí mà ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 42.810.000 đồng theo biên lai thu số 0006748, ngày 12/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 147; 227; 228; 266; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Áp dụng các Điều 280, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại phát triển Thành phố H đối với bà Huỳnh Thị Mỹ H1.
- Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ H1 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H số tiền 2.853.112.248 đồng (hai tỷ tám trăm năm ba triệu một trăm mười hai nghìn hai trăm bốn mươi tám đồng), gồm tiền nợ gốc, tiền lãi và các khoản phí phát sinh tính đến ngày 25/03/2025, trong đó:
- Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 23081/18MN/HĐTD ngày 01/10/2018 tính đến ngày 25/3/2025 là 2.644.059.163 đồng (trong đó nợ gốc 2.241.105.990 đồng và nợ lãi là 402.953.173 đồng);
- Nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 5151311111859556 tính đến ngày 25/3/2025 là 209.053.085 đồng (trong đó nợ gốc 82.772.812 đồng, nợ lãi và các khoản phí là 44.436.381 đồng);
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Mỹ H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả xong khoản nợ.
Trường hợp bà Huỳnh Thị Mỹ H1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, ngân hàng TMCP phát triển thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại thửa số 135, tờ bản đồ số 120, toạ lạc tại khu phố E, phường D, P, Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 156395 do UBND huyện P cấp ngày 03/09/2015 cấp cho bà Huỳnh Thị Mỹ H1 để đảm bảo thu hồi nợ.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 89.062.200 đồng (tám mươi chín triệu không trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Hoàn trả cho ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 42.810.000 đồng theo biên lai thu số 0006748, ngày 12/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Quang Thanh |
Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 23/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngân hàng khởi kiện buộc bà H phải trả số tiền ....., đồng thời yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trường hợp bà H không trả được tiền
