|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-ST
Ngày 24-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Luyện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thủy, ông Nguyễn Văn Thục
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.
Trong 24/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST- DS ngày 01/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn:
- Anh Đàm Đức T, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Chị Phạm Thị N, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt). Hiện lao động tại Singapore, không rõ địa chỉ (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Đức X, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn là chị Vũ Thị C trình bày:
Giữa vợ chồng chị và vợ chồng anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị N có mối quan hệ quen biết nhau nên ngày 29/5/2015 vợ chồng chị đã cho vợ chồng anh T, chị N vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,2%/tháng (14.4%/năm), lãi tháng nào trả tháng đó; thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày 25/09/2015 đến ngày 25/09/2016. Khi vay tiền hai bên có viết giấy biên nhận do anh X là chồng chị viết, anh T, chị N ký vào giấy biên nhận, mục đích vay để chị N đi nước ngoài. Từ khi vay đến nay, vợ chồng anh T chưa trả vợ chồng chị khoản tiền gốc nào.
Về tiền lãi: Từ khi vay nợ đến nay,vợ chồng anh T chị N mới trả 6.000.000 đồng tiền lãi vào ngày 25/3/2020 bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của anh T đến tài khoản của chồng chị là Nguyễn Đức X.
Ngoài ra, vợ chồng chị còn cho cá nhân anh Đàm Đức T vay số tiền 120.000.000 đồng, cụ thể:
- - Ngày 21/02/2020, cho anh T vay số tiền 50.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận miệng là 0,83%%/tháng (10%/năm), không thỏa thuận về thời hạn vay mà chỉ thỏa thuận khi nào yêu cầu trả nợ thì báo trước 01 tháng. Khi vay tiền, anh T có viết, ký giấy vay tiền.
- - Ngày 26/02/2020, cho anh T vay số tiền 50.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận miệng là 0,83%%/tháng (10%/năm), không thỏa thuận về thời hạn vay mà chỉ thỏa thuận khi nào yêu cầu trả nợ báo trước 01 tháng.
- - Ngày 28/11/2020, cho anh T vay số tiền 20.000.000đồng bằng hình thức nhờ anh Nguyễn Văn T1, địa chỉ tại thôn H, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang chuyển khoản cho anh Đàm Đức T vay, lãi suất vay thỏa thuận miệng là 0,83%%/tháng( 10%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay chỉ thỏa thuận khi nào yêu cầu trả nợ bảo trước 01 tháng.
Toàn bộ khoản tiền cho cá nhân anh T vay nêu trên anh T đều nói mục đích vay tiền để đầu tư làm ăn, từ khi vay nợ đến nay anh T vẫn chưa trả khoản tiền gốc, tiền lãi nào.
Do các khoản vay đến nay đều đã quá thời hạn trả nợ, chị đã thông báo và yêu cầu vợ chồng anh T, chị N phải trả hết nợ gốc và tiền lãi của các khoản vay chung và vay riêng nhưng anh T, chị N vẫn không trả. Chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị N phải trả số tiền vay chung là 50.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi kể từ ngày vay 29/5/2015 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 0,75%/tháng (chị không yêu cầu trả mức lãi suất 1,2%/tháng theo thỏa thuận tại giấy vay tiền ngày 29/5/2015).
- - Buộc cá nhân anh Đàm Đức T phải trả số tiền vay nợ gốc của 02 lần vay với tổng số tiền 100.000.000 đồng (theo giấy vay tiền ngày 26/2/2020; ngày 21/2/2020) và tiền lãi của số nợ gốc 100.000.000đồng kể từ ngày vay 26/02/2020 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 0,83%/tháng.
- Chị C xin rút yêu cầu, không đề nghị Tòa án giải quyết đối với khoản tiền vay 20.000.000đồng theo hình thức chuyển khoản ngày 28/11/2020 từ người gửi Nguyễn Văn T2 đến Đ.
- Số tiền cho anh T2, chị N vay là tiền chung của chị và chồng là Nguyễn Đức X.
Tại bản tự khai, anh Nguyễn Đức X trình bày: Anh X nhất trí với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của vợ là Vũ Thị C, số tiền cho anh T2 chị N vay là tiền chung của vợ chồng, đề nghị anh T2 chị N phải trả vợ chồng anh số tiền gốc, tiền lãi còn nợ.
Qúa trình giải quyết, Tòa án tiến hành thu thập được một số tài liệu như sau:
- -Tại Công văn số 29324/QLXNC –P3 ngày 11/12/2024 của Cục X1 –Bộ C1 cung cấp: Chị Phạm Thị N đã xuất nhập cảnh Việt Nam 15 lần, lần gần nhất nhập cảnh Việt Nam ngày 22/6/2024 và xuất cảnh ngày 25/11/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh Việt Nam.
- - Tại Công văn số 3863/QLXNC ngày 14/12/2023 (do nguyên đơn cung cấp khi nộp đơn khởi kiện – bl 05) Phòng Q Công an tỉnh B cung cấp: Chị Phạm Thị N sử dụng hộ chiếu phổ thông xuất nhập cảnh 13 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 03/11/2023 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh.
- -Tại Biên bản xác minh ngày 18/11/2024, Trưởng thôn Đông Thắng, xã T cung cấp: Anh Đàm Đức T và chị Phạm Thị N trước đây có đăng ký kết hôn và sinh sống tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau này anh T đi làm ăn ở nơi khác thỉnh thoảng mới về nhà giải quyết việc gia đình. Anh T3 làm gì và ở đâu thì địa phương không nắm được do anh T3 không khai báo. Đối với chị Phạm Thị N trước đây có đi nước ngoài lao động, gần đây chị N có về địa phương sinh sống nhưng hiện tại chị N còn ở nhà hay không thì địa phương không nắm được. Tòa án đã đến nhà anh T3 chị N để tống đạt văn bản tố tụng nhưng không tống đạt được do anh T3 chị N không có nhà, mẹ đẻ chị N là bà Nguyễn Thị H ở cùng nhà với anh T3 chị N từ chối nhận giao văn bản của Tòa án cho chị N, anh T3 và từ chối cung cấp thông tin nơi ở của anh T3, chị N. Do không gặp được anh T3, chị N nên Trưởng thôn từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án để tống đạt cho anh T3 chị N.
- -Tại biên bản xác minh ngày 18/6/2025, anh Đàm Đức A, anh Đàm Đức B là con đẻ của anh T3, chị N cung cấp: Hiện tại chị Phạm Thị N đang ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể anh A, anh B không biết. Anh Đàm Đức T hiện đi làm tại Hưng Yên, thỉnh thoảng mới về nhà, địa chỉ cụ thể các anh A, anh B không biết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do không tống đạt được trực tiếp văn bản tố tụng cho anh T, chị N nên Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho Đàm Đức T và chị Phạm Thị N theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh T, chị N không đến Tòa án làm việc hay cung cấp văn bản ý kiến, không đến tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải.
Tại phiên tòa ngày 22/5/2025: Tòa án hoãn phiên tòa do bị đơn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa ngày 24/6/2025:
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Nguyên đơn- chị Vũ Thị C trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định khoản tiền vay ngày 21/02/2020 và ngày 26/02/2020 là khoản vay riêng của anh T vì khi vay chị N đang ở nước ngoài. Đối với khoản tiền lãi chị đề nghị tính tròn năm, tròn tháng, không tính ngày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn, chấp hành theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Buộc anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị Ngọc T4 chị Vũ Thị C, anh Nguyễn Đức X tổng số tiền 89.000.000đồng trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, nợ lãi là 39.000.000đồng.
- - Buộc anh Đàm Đức T trả chị Vũ Thị C, anh Nguyễn Đức X tổng số tiền 152.490.000đồng trong đó nợ gốc là 100.000.000đồng, nợ lãi là 52.490.000đồng.
- + Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị C về việc buộc anh Đàm Đức T trả số tiền 20.000.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Vũ Thị C khởi kiện yêu cầu anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị Ngọc T4 số tiền nợ gốc, nợ lãi theo giấy vay tiền ngày 29/5/2015, ngày 21/02/2020 và ngày 26/02/2020 do anh T, chị N vi phạm cam kết trả nợ. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Theo cung cấp của Phòng Q Công an tỉnh B và của Cục X1 Bộ C1 thì chị Phạm Thị N là bị đơn trong vụ án xuất cảnh khỏi Việt Nam trước thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý vụ án và hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức X vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Phạm Thị N đang có nghĩa vụ phải trả nợ gốc và lãi cho chị Vũ Thị C nhưng vắng mặt tại nơi cư trú không thông báo cho chị C, anh X và cũng không thông báo địa chỉ nơi ở mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định pháp luật về cư trú. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh T, chị N vắng mặt không có lý do. Chị N đã xuất cảnh khỏi Việt Nam đến nay chưa có thông tin nhập cảnh. Việc vắng mặt của chị N thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Đối với anh Đàm Đức T vắng mặt ở nơi cứ trú nên Tòa án không tống đạt được trực tiếp văn bản tố tụng. Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho anh T, chị N theo quy định tại Điều 177, Điều 179, khoản 3 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt anh T, chị N là đảm bảo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thời hiệu giải quyết vụ án: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm. Tuy nhiên, các đương sự trong vụ án không ai yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
*Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị Ngọc T4 số tiền nợ gốc, nợ lãi của khoản vay 50.000.000đồng theo giấy vay tiền ngày 29/5/2015, Hội đồng xét xử thấy:
[4] Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo bị đơn là đến Tòa án để viết bản tự khai, để Tòa án lấy lời khai về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không đến làm việc, không nộp bản tự khai, không cung cấp văn bản ý kiến thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp các tài liệu chứng cứ gì.
[5]Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bản gốc giấy vay tiền ngày 29/5/2015 do nguyên đơn giao nộp (bl 64) xác định: Ngày 29/5/2015 (dương lịch) anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị N có vay của chị Vũ Thị C, anh Nguyễn Đức X số tiền 50.000.000đồng, giấy vay tiền có chữ ký của người vay anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị N. Theo trình bày của chị C, anh X thì sau khi vay tiền anh T, chị N chưa trả khoản tiền nợ gốc nào. Do vậy, chị C khởi kiện yêu cầu anh T, chị N trả số tiền nợ gốc là 50.000.000đồng là có căn cứ theo Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự; Điều 33, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[6] Tại giấy vay tiền ngày 29/5/2015 ghi thỏa thuận của các bên về thời hạn vay là 01 năm, lãi suất là 1,2%/tháng (14,4%/năm). Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688, Điều 463, khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015 xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi. Mặc dù tại giấy vay tiền ghi thỏa thuận của các bên về mức lãi suất là 1,2%/tháng tương đương 14,4%/năm nhưng tại phiên tòa chị C chỉ yêu cầu anh T, chị N trả tiền lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng N1 tại thời điểm vay là 9%/năm tương ứng 0,75%/tháng, không yêu cầu trả mức lãi xuất 1,2%/tháng theo thỏa thuận. Xét thấy, yêu cầu của chị C là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468, khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi tròn năm, tròn tháng, không yêu cầu tính ngày.
Từ ngày 29/5/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/6/2025 là 10 năm 26 ngày. Số tiền lãi của 10 năm là: 50.000.000 đồng x 9%/năm x 10 năm = 45.000.000đồng. Theo trình bày của nguyên đơn và tài liệu do nguyên đơn giao nộp (sao kê tài khoản Ngân hàng TMCP C2) thì anh T, chị N đã trả 6.000.000đồng tiền lãi. Do vậy, số tiền lãi anh T, chị N còn phải trả là 45.000.000 đồng – 6.000.000đồng= 39.000.000 đồng.
* Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn anh Đàm Đức T trả nợ gốc, nợ lãi theo giấy vay tiền ngày 21/02/2020 và ngày 26/02/2020, Hội đồng xét xử thấy:
[7] Về yêu cầu trả nợ gốc: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bản gốc giấy vay tiền ngày 21/02/2020 và ngày 26/02/2020 do nguyên đơn giao nộp (bl 63, bl 65) xác định: Ngày 21/02/2020 và ngày 26/02/2020 anh Đàm Đức T có vay của chị Vũ Thị C, anh Nguyễn Đức X tổng số tiền 100.000.000đồng. Mặc dù khoản tiền vay nêu trên anh T vay trong thời kỳ hôn nhân nhưng giấy vay tiền chỉ có chữ ký của anh T, chị N không ký; nguyên đơn chị Vũ Thị C trình bày khoản tiền cho vay là cho cá nhân anh T vay, không phải là khoản vay chung của anh T, chị N do thời điểm vay chị N đang ở nước ngoài. Chị C, anh X trình bày sau khi vay tiền, anh T chưa trả khoản tiền nợ gốc nào. Do vậy, chị C khởi kiện yêu cầu anh T trả số tiền nợ gốc là 100.000.000đồng là có căn cứ theo Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự; Điều 33, Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[8] Về yêu cầu trả nợ lãi: Tại các giấy vay tiền ngày 21/02/2020 và ngày 26/2/2020 chỉ ghi lãi suất theo thỏa thuận, không ghi mức lãi suất cụ thể, không ghi thỏa thuận của các bên về thời hạn vay. Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ (tức không vượt quá 10%/năm). Như vậy, chị C yêu cầu anh T trả tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng (tương ứng 10%/năm), thời gian trả từ ngày 26/02/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 468, khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi tròn năm, tròn tháng, không yêu cầu tính ngày.
[9]Từ ngày 26/02/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/6/2025 là 05 năm 03 tháng 28 ngày. Số tiền lãi của 05 năm là: 100.000.000đồng x 10%/năm = 50.000.000đồng. Số tiền lãi của 03 tháng là: 100.000.000đồng x 0,83%/tháng x 03 tháng = 2.490.000đồng. Nguyên đơn không yêu cầu trả lãi tiền vay của 28 ngày nên tổng số tiền lãi là: 52.490.000đồng.
[10] Đối với số tiền vay 20.000.000đồng theo hình thức chuyển khoản ngày 28/11/2020 chị C xin rút yêu cầu không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của chị C theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ chung anh Đàm Đức T, chị
Phạm Thị N phải chịu là: 89.000.000đồng x 5% = 4.450.000đồng; số tiền án phí đối với khoản nợ riêng anh Đàm Đức T phải chịu là: 152.490.000đồng x 5% = 7.624.500đồng.
[12] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Phạm Thị N vắng mặt tại phiên tòa, đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470, Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 33, Điều 37, Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- -Buộc anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị Ngọc T4 chị Vũ Thị C, anh Nguyễn Đức X tổng số tiền 89.000.000đồng (bằng chữ: T5 mươi chín triệu đồng) trong đó nợ gốc là 50.000.000đồng, nợ lãi là 39.000.000đồng.
- - Buộc anh Đàm Đức T trả chị Vũ Thị C, anh Nguyễn Đức X tổng số tiền 152.490.000đồng (bằng chữ: Một trăm năm mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng) trong đó nợ gốc là 100.000.000đồng, nợ lãi là 52.490.000đồng.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị C về việc buộc anh Đàm Đức T trả số tiền 20.000.000đồng (bằng chữ: Hai mươi triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Anh Đàm Đức T, chị Phạm Thị N phải chịu 4.450.000đồng (bằng chữ: Bốn triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Anh Đàm Đức T phải chịu 7.624.500 đồng (bằng chữ: Bẩy triệu, sáu trăm hai mươi bốn nghìn, năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả chị Vũ Thị C 5.518.000 đồng (bằng chữ: Năm triệu, năm trăm mười tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000146 ngày 28/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn (anh Đàm Đức T), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Nguyễn Đức X) vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn quan (chị Phạm Thị N) có quyền kháng cáo bản án thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 23/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị C và anh T
