Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/DS-ST

Ngày: 21-02-2025.

Về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Kim Hoàng.
  2. Bà Võ Thanh Nga.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 244/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.

Địa chỉ: B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1990 “có mặt”.

(Giấy ủy quyền số 4746/UQ-PVB ngày 24/06/2024).

Bị đơn: Ông Văn Công T, sinh năm 1983 “vắng mặt”.

Địa chỉ: B Đường D, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn M trình bày: Ông Văn Công T và Ngân hàng TMCP Đ xác lập quan hệ tín dụng bằng việc ký kết các văn bản sau đây:

  1. Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 với các thông tin chi tiết như sau: Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018, số tiền vay 291.000.000 đồng, ngày giải ngân: 28/08/2018, thời hạn vay: 72 tháng, mục đích sử dụng vốn là mua xe ôtô.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông Văn Công H đã ký kết Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 8808/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GD-TTB ngày 18/08/2018 để thế chấp xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 395523 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018 cho ông Văn Công H. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/08/2018, số đăng ký 1298573508.

  1. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 với các thông tin chi tiết như sau: Loại thẻ: Standard, số thẻ: 538742888015346, hạn mức: 14.000.000 đồng, ngày phát hành thẻ: 19/09/2018, thời hạn sử dụng: 36 tháng, mục đích sử dụng: Tiêu dùng, lãi suất: 22%/năm.

Quá trình thực hiện các hợp đồng, ông Văn Công T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Do đó, Ngân hàng TMCP Đ đã gửi Thông báo số 3402/TB-QL&TCTTS về việc thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ các khản nợ của ông Văn Công T.

Do đó, Ngân hàng TMCP Đ đề nghị Tòa án buộc ông Văn Công T phải có trách nhiệm thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 là 460.126.216 đồng, trong đó: nợ gốc là 229.178.271 đồng, nợ lãi là 230.947.945 đồng; số nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 là 33.434.329 đồng, trong đó: nợ gốc là 6.862.124 đồng, nợ lãi là 26.572.205 đồng. Tổng cộng là 493.560.546 đồng.

Ngoài ra, ông Văn Công T còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đ kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Trường hợp ông Văn Công T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc và nợ lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 395523 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018 cho ông Văn Công H để thu hồi nợ.

Bị đơn ông Văn Công T mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai tại tòa. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau đây: Ngày 07/10/2024, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra thông báo thụ lý số 244/TB-TLVA và đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý này cho ông Văn Công T nhưng sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý ông Văn Công T vẫn không có ý kiến gì. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Văn Công T đến Tòa án để lấy lời khai, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Văn Công T đều vắng mặt không có lý do. Do đó trong hồ sơ vụ án không có lời trình bày của bị đơn.

Tại phiên tòa,

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn M xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc ông Văn Công T phải có trách nhiệm thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 là 460.126.216 đồng, trong đó: nợ gốc là 229.178.271 đồng, nợ lãi là 230.947.945 đồng; số nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 là 33.434.329 đồng, trong đó: nợ gốc là 6.862.124 đồng, nợ lãi là 26.572.205 đồng. Tổng cộng là 493.560.546 đồng.

Ngoài ra, ông Văn Công T còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đ kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Trường hợp ông Văn Công T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc và nợ lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 395523 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018 cho ông Văn Công H để thu hồi nợ.

Bị đơn ông Văn Công T vắng mặt nên không có lời trình bày tại tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự được tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Căn cứ Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 và Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 8808/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GD-TTB ngày 18/08/2018 giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Văn Công T thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp:

Xét, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu ông Văn Công T thanh toán số tiền còn thiếu của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018. Như vậy, có cơ sở xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

1.2. Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Văn Công T thể hiện tại thời điểm ký kết hợp đồng ông Văn Công T có địa chỉ tại số B Đường số D, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Ông Văn Công T, sinh năm 1983 có hộ khẩu thường trú tại số B Đường số D, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và đang thực tế cư ngụ tại địa phương”. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Văn Công T nhưng ông không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa, bị đơn ông Văn Công T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Văn Công T.

Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định pháp luật.

[2]. Về pháp luật nội dung:

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc ông Văn Công T phải thanh toán số tiền nợ gốc của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 là 229.178.271 đồng.

Xét, Ngân hàng TMCP Đ được phép hoạt động trong lĩnh vực tín dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp 0101057919 do Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp.

Xét, Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Văn Công T đảm bảo về mặt hình thức, nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.

Tại Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Văn Công T có nội dung thỏa thuận như sau: Ông Văn Công T vay của Ngân hàng TMCP Đ số tiền 291.000.000 đồng, thời hạn vay là 72 tháng, mục đích vay là mua xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13. Thời hạn giải ngân là 60 ngày kể từ ngày 21/08/2018, phương thức giải ngân được quy định tại Khế ước nhận nợ. Lãi suất trong hạn được áp dụng tại thời điểm giải ngân. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với số dư nợ gốc đến hạn.

Căn cứ vào Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 đã có đủ căn cứ để xác định bị đơn ông Văn Công T đã được Ngân hàng TMCP Đ giải ngân tổng cộng số tiền 291.000.000 đồng.

Để bảo đảm cho Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, ông Văn Công T đã ký Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 8808/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GD-TTB ngày 18/08/2018 để thế chấp xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 395523 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018 cho ông Văn Công H. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/08/2018, số đăng ký 1298573508.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn ông Văn Công T đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ theo Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 tổng cộng số tiền là 95.071.502 đồng, trong đó: nợ gốc là 61.821.729 đồng và nợ lãi là 33.249.773 đồng.

Căn cứ vào Thông báo số: 3402/PVB-QLTCTS ngày 15/07/2020 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ thì trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn ông Văn Công T đã vi phạm Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 nên Ngân hàng TMCP Đ thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ các khoản nợ của ông Văn Công T.

Xét thấy, việc nguyên đơn có quyền yêu cầu thu hồi toàn bộ dư nợ còn lại của bị đơn mà không phải chờ đến khi kết thúc thời hạn vay là có căn cứ theo quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.

Tạm tính đến ngày 21/02/2025, ông Văn Công T còn thiếu Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ gốc là 229.278.271 đồng.

Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Văn Công T nhưng ông không đến trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn ông Văn Công T đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.

Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ buộc bị đơn ông Văn Công T phải thanh toán số tiền nợ gốc là 229.178.271 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc ông Văn Công T phải thanh toán số tiền nợ lãi của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 là 230.947.945 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết.

Tại Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 và Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ về việc ông Văn Công T có thỏa thuận như sau: Lãi suất cho vay áp dụng trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân cố định bằng 8,99%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng từ tháng thứ 13 trở đi đến hết thời gian vay: Lãi suất cho vay = (Lãi suất tiền gửi của Ngân hàng TMCP Đ danh cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 13 tháng, tính lãi cuối kỳ, có loại tiền tương ứng với loại tiền vay theo biểu lãi suất huy động của ngân hàng trong từng thời kỳ) + biên độ 4,5%/năm, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với số dư nợ gốc đến hạn nhưng chưa được trả đúng hạn. Lãi suất chậm trả theo quy định của ngân hàng nhưng đảm bảo không quá 10%/năm. Số tiền lãi của toàn bộ thời hạn tính lãi được xác định theo công thức sau: (Số dư được sử dụng để tính lãi theo thỏa thuận của các bên và theo quy định của pháp luật về cấp tín dụng x số ngày mà số dư thực tế được duy trì để tính lãi x lãi suất cho vay) : 365.

Căn cứ khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, nguyên đơn có quyền chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc tại ngày đến hạn nhưng chưa được trả nợ đúng hạn. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Căn cứ mục A.2 Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng quy định về lãi chậm trả như sau: Lãi chậm trả áp dụng trong trường hợp bên vay chậm thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền lãi, các khoản phí hoặc các nghĩa vụ thanh toán khác (ngoại trừ nợ gốc quá hạn) (sau đây gọi là "Tiền chậm trả"). Lãi chậm trả được xác định trên cơ sở tiền chậm trả x số ngày chậm trả thực tế x Lãi suất chậm trả lãi (%) : 365.

Xét, đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết. Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự được ghi nhận tại Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 và Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng thì ông Văn Công T còn nợ Ngân hàng TMCP Đ tiền lãi tạm tính đến ngày 21/02/2025 là 230.947.945 đồng.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc ông Văn Công T phải thanh toán số tiền nợ lãi của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 là 230.947.945 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông Văn Công T còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại các hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đ kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

2.3. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc ông Văn Công T phải thanh toán số tiền nợ gốc của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 là 6.862.124 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ thì có cơ sở khẳng định: Ngày 19/09/2018, ông Văn Công T ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 và Điều khoản, điều kiện về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với Ngân hàng TMCP Đ. Căn cứ vào thu nhập của ông Văn Công T, Ngân hàng TMCP Đ đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với các thông tin chi tiết như sau: Loại thẻ: Standard, số thẻ: 538742888015346, hạn mức: 14.000.000 đồng, ngày phát hành thẻ: 19/09/2018, thời hạn sử dụng: 36 tháng, mục đích sử dụng: Tiêu dùng, lãi suất: 22%/năm. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Văn Công T đã thanh toán nợ gốc là 7.137.876 đồng. Như vậy, ông Văn Công T còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ gốc là 6.862.124 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.4. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc ông Văn Công T phải thanh toán số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 là 26.572.205 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết.

Xét, đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết. Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự được ghi nhận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018, Bản điều khoản, điều kiện về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế và Quyết định số 5722/QĐ-PVB ngày 08/06/2016 về việc ban hành “Biểu phí dịch vụ dành cho T1 tín dụng Quốc tế” của Ngân hàng TMCP Đ thì ông Văn Công T còn nợ số tiền lãi tạm tính đến ngày 21/02/2025 là 26.572.205 đồng. Ngoài ra, ông Văn Công T còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.5. Về thời hạn thanh toán:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định: Ông Văn Công T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của các hợp đồng tín dụng và nguyên đơn cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình tránh né thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định mặc dù đã được nguyên đơn đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.6. Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ về việc phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp ông Văn Công T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi phát sinh tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết:

Căn cứ Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 8808/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GD-TTB ngày 18/08/2018 đã được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/08/2018, số đăng ký 1298573508, Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô biển số 51G-674.13 do Phòng C - Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018 thì có cơ sở khẳng định: Ông Văn Công T đã thế chấp xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13 để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ và các hợp đồng, văn bản được ký kết trước, trong hoặc hình thành trong tương lai sau thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Văn Công T.

Xét, Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 8808/2018/HĐBĐ/PVB-CN.GD-TTB ngày 18/08/2018 đảm bảo về hình thức và nội dung giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.

Từ ngày 14/07/2020, ông Văn Công T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 từ ngày 14/07/2020. Ngày 15/07/2020, Ngân hàng TMCP Đ đã ban hành Thông báo số: 3402/PVB-QLTCTS ngày 15/07/2020 về việc thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ các khoản nợ của ông Văn Công T tại thời điểm này với số tiền nợ gốc và nợ lãi tổng cộng là 258.621.437 đồng. Các tình tiết trên đây đã được thông báo đến bị đơn nhưng đương sự không có ý kiến phản hồi nên căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định các tình tiết trên là sự thật.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 395523 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018 cho ông Văn Công H để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận. Tài sản thế chấp sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự về xử lý tài sản thế chấp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.
  • Căn cứ vào Điều 280, Điều 292, Điều 293, Điều 298, Điều 299, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.
  • Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu thi hành ngày 01/01/2011.
  • Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1.1. Buộc ông Văn Công T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018 là 460.126.216 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu một trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm mười sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 229.178.271 đồng, nợ lãi là 230.947.945 đồng.

Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng ông Văn Công T còn phải có trách nhiệm trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

1.2. Buộc ông Văn Công T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ tạm tính đến ngày 21/02/2025 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 là 33.434.329 đồng (ba mươi ba triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), trong đó: nợ gốc là 6.862.124 đồng, nợ lãi là 26.572.205 đồng.

Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng ông Văn Công T còn phải có trách nhiệm trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

1.3. Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Văn Công T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ôtô nhãn hiệu Chervrolet Spark KL1M-MHD12/2BB5-1, màu sơn: Trắng, số khung: RLLMF48DJJH951968, số máy: B12D1Z2180698HN7X0205, biển kiểm soát: 51G-674.13 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 395523 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản được dùng để thanh toán các khoản nợ gốc và lãi của ông Văn Công T đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Văn Công T phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm còn dư thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Văn Công T.

Sau khi ông Văn Công T thanh toán xong toàn bộ số nợ theo Hợp đồng cho vay số 8808/2018/HĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 28/08/2018, Khế ước nhận nợ số LD1824087328 ngày 28/08/2018 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng số 190919/10517275/TTD/PVB ngày 19/09/2018 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có nghĩa vụ xóa thế chấp và trả lại bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 395523 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 24/08/2018 cho ông Văn Công T.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Văn Công T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.742.422 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm hai mươi hai đồng).

H1 lại số tiền tạm ứng án phí là 11.146.000 đồng (mười một triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo biên lai số 0006655 ngày 17/09/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 23/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH ĐC VN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger