Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/DS-ST

Ngày: 14/4/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Nguyễn Minh Tùng

Bà Ngô Thị Mỹ Lợi

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025; ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q

Trụ sở chính: Số B L, Phường L, Quận H, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Bùi Phúc V; anh Trần Hoàng V1, anh Vũ Hoàng N - Chuyên viên xử lý nợ, Trung tâm xử lý Nợ Ngân hàng TMCP Q

Địa chỉ liên hệ: Số B, Đường C, Phường X, Quận N, TP ..

Bị đơn:

1. Anh Võ Văn T - sinh năm 1987

2. Chị Hồ Thị Trúc P - sinh năm 1988

Nơi ở hiện nay: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ

Người đại diễn ủy quyền của anh T: Ông Huỳnh Hữu T1, sinh năm 1971

Địa chỉ: Số I, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (văn bản ủy quyền ngày 12/4/2025).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Văn T2, sinh năm 1967
  2. Địa chỉ: Số B ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ

    Người đại diện ủy quyền của ông T2: Ông Huỳnh Hữu T1, sinh năm 1971

    Địa chỉ: Số I, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (văn bản ủy quyền ngày 12/4/2025)

  3. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968
  4. Bà Tô Thị T3, sinh năm 1948;
  5. Anh Võ Trọng H1, sinh năm 1992;
  6. Chị Nguyễn Phương Thảo G, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: Số B ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ

Tại phiên tòa có mặt anh V, ông T1; vắng mặt bà M, bà T3, chị P, chị G, anh H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (người đại diện ủy quyền anh Bùi Phúc V) trình bày:

Anh Võ Văn T và chị Hồ Thị Trúc P có ký kết Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020 vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 2.000.000.000 đồng; Ngân hàng đã giải ngân và anh T, chị P đã nhận đủ số tiền trên theo khế ước nhận nợ số 001/KUNN/031/20/HĐCV-9365 ngày 23/09/2020.

- Mục đích vay: Thanh toán mua Bất động sản thửa đất số 1823, thửa đất số 1824, tờ bản đồ số 29, địa chỉ xã T, thành phố S.

- Thời hạn vay: 240 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân.

- Lãi suất kỳ đầu tiên: Trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân là 10,5%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi phạt chậm trả lãi 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ vay trên gồm:

  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1823, tờ bản đồ số 29, diện tích 504,9m² được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T đứng ngày 10/07/2020
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1824, tờ bản đồ số 29, diện tích 1479,8m² được Sở T4 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T ngày 14/07/2020

Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 031/20/HĐTC-9365 ngày 21/09/2020; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Đồng Tháp ngày 22/09/2020.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh T, chị P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.186.822.888đồng. Trong đó tiền gốc 350.051.093đồng, tiền lãi 836.771.795đồng.

Từ ngày 25/11/2023, anh T, chị P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, phía Ngân hàng đã gửi thông báo, làm việc trực tiếp yêu cầu trả nợ nhưng anh T, chị P không thực hiện nên Ngân hàng khởi kiện theo quy định. Sau đó, anh T có thanh toán được một phần tiền vốn, lãi rồi tiếp tục ngưng.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay ngày 21/9/2020, thời hạn vay là 240 tháng. Tuy nhiên từ ngày 25/11/2023 anh T, chị P đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn, lãi. Hiện nay khoản vay của anh T, chị P đã chuyển thành nợ xấu thuộc nhóm 4. Do đó, nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu:

  • Anh T, chị P trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày 28/3/2025 là: 2.007.396.616đ (vốn là 1.649.948.907đ, lãi 357.447.709đ); anh T, chị P tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 29/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020.
  • Trường hợp anh T, chị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thuộc thửa 1823, 1824 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 031/20/HĐTC-9365 ngày 21/09/2020 để thu hồi nợ.
  • Tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh T, chị P vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho ngân hàng.

Bị đơn anh Võ Văn T (ủy quyền cho ông Huỳnh Hữu T1), bà Hồ Thị Trúc P trình bày:

Quá trình tham gia tố tụng chị P (vợ anh T) thống nhất về số tiền vốn vay, tiền gốc và lãi còn nợ theo lời trình bày của Ngân hàng; đồng ý trả nợ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp không trả được nợ, chị P đồng ý để giao tài sản thế chấp để Cơ quan thi hành phát mãi, kê xử lý theo quy định.

Về phía anh T quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa (ủy quyền cho ông Huỳnh Hữu T1) cũng thống nhất về số tiền vốn, lãi mà nguyên đơn yêu cầu tính đến ngày 28/3/2025. Tuy nhiên, theo Hợp đồng cho vay ngày 21/9/2020, thời hạn vay 20 năm. Do đó, anh T đề nghị ngân hàng cho anh T trả số tiền lãi chưa đóng tính đến ngày 28/3/2025 là 357.447.709đ và tiếp tục thực hiện hợp đồng vay cho đến khi hết hạn.

Tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T2 (ủy quyền cho ông Huỳnh Hữu T1), bà Nguyễn Thị M trình bày:

Quá trình giải quyết vụ án, ông T2, bà M thừa nhận tài sản thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa 1823, 1824 tờ bản đồ 29 do anh T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên đất thế chấp có nhà ở, cơ sở trại hòm, nhà vệ sinh thuộc sở hữu của ông T2, bà M. Trong trường hợp anh T và chị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì ông T2, bà M đồng ý giao tài sản thế chấpcho cơ quan thi hành án phát mãi, kê biên thu hồi nợ.

Tại phiên tòa, ông T1 đại diện ủy quyền cho ông T2 đề nghị Ngân hàng cho anh T trả số tiền lãi vi phạm và tiếp tục thực hiện hợp đồng vay ngày 21/09/2020. Vì trên phần đất thế chấp có nhà xưởng của ông T2, nếu phải xử lý tài sản đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh (trại hòm) của gia đình.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 04/3/2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tô Thị T3 trình bày:

Trên thửa đất thế chấp có căn nhà của bà T3, hiện nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả vốn, lãi trước hạn phía bà T3 không có ý kiến gì. Trong trường anh T, chị P không trả được nợ thì bà T3 đồng ý giao tài sản thế chấp cho cơ quan thi hành án phát mãi, kê biên thu hồi nợ cho ngân hàng. Bà T3 không có tranh chấp, yêu cầu đối với hai thửa đất thế chấp trên.

Về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Trọng H1, chị Nguyễn Phương Trúc G1: Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo, nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Riêng bị đơn (chị P); người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (anh H1, chị G1) không thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • Buộc anh T, chị P trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền lãi tạm tính đến ngày 28/3/2025 là: 2.007.396.616đ (vốn là 1.649.948.907đ, lãi 357.447.709đ); tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 29/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020 và khế ước nhận nợ số 001/KUNN/031/20/HĐCV-9365 ngày 23/09/2020.
  • Trường hợp anh T, chị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Q được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 031/20/HĐTC-9365 ngày 21/9/2020.
  • Ông T2, bà M, bà T3, anh H1, chị G1 có nghĩa vụ tài sản trên đất thuộc thửa 1823, 1824, tờ bản đồ số 29 trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
  • Tiền thu được việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh T, chị P vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng. Bị đơn hiện cư trú tại thành phố S. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

[1.2]. Tại phiên toà bị đơn chị Hồ Thị Trúc P; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Trọng H1, chị Nguyễn Phương Trúc G1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do. Về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M, bà Tô Thị T3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng các đương sự theo quy định chung.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu anh Võ Văn T, chị Hồ Thị Trúc P trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày 28/3/2025 là: 2.007.396.616đ (vốn là 1.649.948.907đ, lãi 357.447.709đ); anh T, chị P còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 29/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020 và khế ước nhận nợ số 001/KUNN/031/20/HĐCV-9365 ngày 23/09/2020.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Anh T và chị P1 có ký kết Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020 vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q1 tiền là 2.000.000.000đ. Thời hạn cho vay theo thỏa thuận là 240 tháng tính từ ngày tiếp theo ngày giải ngân (23/9/2020). Căn cứ khế ước nhận nợ số 001/KUNN/031/20/HĐCV-9365 ngày 23/09/2020, ngân hàng đã giải ngân cho anh T, chị P đủ số tiền vay 2.000.000.000đ.

Thực hiện hợp đồng cho vay anh T, chị P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.186.822.888đồng. Trong đó tiền gốc là 350.051.093đồng, tiền lãi là 833.771.795đồng. Từ ngày 25/11/2023, anh T, chị P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện trả nợ theo hợp đồng. Ngày 06/3/2024, ngân hàng G2 thông báo chuyển toàn bộ dư nợ gốc chưa đến hạn thanh toán kể từ ngày 20/3/2024 sang nợ quá hạn và yêu cầu anh T, chị P thanh toán toàn bộ khoản nợ trước hạn theo quy định.

Về phía bị đơn quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thống nhất còn nợ tiền vốn, lãi như Ngân hàng khởi kiện; thừa nhận đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn, lãi. Đồng thời đề nghị được trả số tiền lãi còn nợ đến ngày 28/3/2025 là 357.447.709đ và tiếp tục thực hiện hợp đồng cho vay.

Tuy nhiên, tại Điều 10, Khoản 3 Điều 11, Điều 17 Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020 các bên có thỏa thuận: Bên A (Ngân hàng) được quyền thu hồi các khoản phải trả của bên B (bên vay) phát sinh liên quan đến Hợp đồng cho vay này nếu khoản vay bị chuyển nợ quá hạn.

Căn cứ vào những thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng cho vay trên thì việc Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ chấp nhận. Buộc anh T, chị P trả số tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày 28/3/2025 là: 2.007.396.616đ (vốn là 1.649.948.907đ, lãi 357.447.709đ); tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 29/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020 và khế ước nhận nợ số 001/KUNN/031/20/HĐCV-9365 ngày 23/09/2020.

[2.2] Về Hợp đồng thế chấp và xử lý tài sản đảm bảo:

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho khoản vay 2.000.000.000đồng, anh T, chị P có thế chấp các tài sản gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1823, tờ bản đồ số 29, diện tích 504,9m² và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1824, tờ bản đồ số 29, diện tích 1479,8m² do anh Võ Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉnh lý biến động trang 3 ngày 07/8/2020.

Xét thấy Hợp đồng thế chấp mà các bên tham gia ký kết được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 317, 318, 319 Bộ luật dân sự 2015, có công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý, phát sinh hiệu lực đối với các bên. Trường hợp anh T, chị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 031/20/HĐTC-9365 ngày 21/09/2020.

Về phía những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông T2, bà M (cha mẹ của anh T); bà T3 (bà nội anh T) hiện đang ở trên phần đất thế chấp. Quá trình giải quyết vụ án thừa nhận có biết việc anh T vay vốn và thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Trong vụ án này ông T2, bà M, bà T3 cũng không có tranh chấp, yêu cầu gì đối với thửa đất 1823, 1824 tờ bản đồ số 29.

Đối với anh Võ Trọng H1, chị Nguyễn Phương Trúc G1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập, nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

Do đó, buộc ông T2, bà M, bà T3, anh H1, chị G1 giao thửa đất số 1823, thửa 1824 cùng tờ bản đồ số 29 cấp cho anh T, đang thế chấp ở Ngân hàng để cơ quan thi hành án kê biên, phát mại thu hồi nợ cho Ngân hàng.

[3] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ như đã nhận định trên.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện, nên bị đơn anh T, chị P phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định. Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định là 400.000đồng nên anh T và chị P phải hoàn trả lại cho Ngân hàng.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T và chị P chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
  • - Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
    1. Buộc anh Võ Văn T và chị Hồ Thị Trúc P trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày 28/3/2025 là: 2.007.396.616đồng (vốn là 1.649.948.907đồng, lãi 357.447.709đồng); tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 29/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 031/20/HĐCV-9365 ngày 21/09/2020.
    2. Trong trường hợp anh Võ Văn T và chị Hồ Thị Trúc P không trả được nợ; Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 1823, thửa 1824 cùng tờ bản đồ số 29 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 855325, số vào sổ cấp GCN: CH14587 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 10/7/2020 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 379657, số vào sổ cấp GCN: CS 14588 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 14/7/2020, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/8/2020 cho anh Võ Văn T, theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 031/20/HĐTC-9365 ngày 21/9/2020.
    3. Buộc ông Võ Văn T2, bà Nguyễn Thị M, bà Tô Thị T3, anh Võ Trọng H1, chị Nguyễn Phương Trúc G1 giao thửa đất số 1823, thửa 1824 cùng tờ bản đồ số 29 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 855325, số vào sổ cấp GCN: CH14587 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 10/7/2020 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 379657, số vào sổ cấp GCN: CS 14588 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp ngày 14/7/2020, cập nhật chuyển nhượng ngày 07/8/2020 cho anh Võ Văn T để Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản thế chấp.
    4. Số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì anh Võ Văn T và chị Hồ Thị Trúc P vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
    5. Trường hợp anh Võ Văn T và chị Hồ Thị Trúc P trả được nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, tài sản thế chấp không bị phát mãi để thi hành án thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q phải trả lại cho anh Võ Văn T toàn bộ bản chính giấy tờ thế chấp (hiện Ngân hàng đang giữ).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Anh Võ Văn T và chị Hồ Thị Trúc P phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 72.148.000đồng.
    • - Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí 32.107.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007769 ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Anh Võ Văn T và chị Hồ Thị Trúc P phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q 400.000đồng.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án Tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện Kiểm sát ND TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THA Dân sự TP. Sa Đéc;
  • - Lưu VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 23/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: buộc bên a trả lại số tiền gốc và lãi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger